TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 10 năm 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Hồ Văn Hào
2- Ông Ngô Sỹ Lượng
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Đình H,T gọi khác: Không; Sinh ngày: 25 tháng 01 năm 1994 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Đình L ( đã chết) và con bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1966; Có vợ: Bùi Thị D, sinh năm 2002 và có 01 sinh năm 2022; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 16/7/2024. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Quang S, T gọi khác: Không; Sinh ngày: 19 tháng 10 năm 1994 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C (đã chết) và con bà Trần Thị L1, sinh năm 1973; Có vợ: Ngô Thị H1, Sinh năm: 1994 và có 01 sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/7/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Hoàng Ngọc V, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20 tháng 01 năm 1989 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Nghĩa V1 (đã chết) và con bà Lê Thị H2, sinh năm 1963; Có vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994 và có 03 con. Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/7/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4.Họ và tên: Lê Thanh H3, T gọi khác: Không; Sinh ngày: 19 tháng 12 năm 1986 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn L2 ( đã chết) và con bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1960 Có vợ: Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1990 và có 02 con. Con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 29/6/2018 bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt tiền số tiền 23.000.000đ. Bị cáo đã thi hành xong hình phạt ngày 06/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 16/7/2024 Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ, T gọi khác: Không; Sinh ngày: 15 tháng 6 năm 1982 tại Thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khối S, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hoàng T2 (đã chết ) và con bà Cao Thị H6, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 02/01/2011, Nguyễn Ngọc Đ bị công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”;
Ngày 18/9/2024 bị TAND thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự số 37/2024/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Phan Đình T3, sinh năm 1982.
- Trú tại: Xóm L, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
- Vắng mặt ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Anh Lê Bạch V2, sinh năm 1995.
- Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
- Vắng mặt ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Anh Lê Thế T4, sinh năm 1991
- Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Vắng mặt ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Anh Trần Sỹ Đ1, S1 năm 1992;
- Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Vắng mặt ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Chị Bùi Thị D, sinh năm 2002
- Trú tại: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
- Vắng mặt ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người chứng kiến:
- + Ông Bùi Viết H7, sinh năm 1959.
- Trú tại: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 09/7/2024, Trần Quang S, Lê Bạch V2, Lê Thế T4 cùng trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, gặp nhau và chơi thể thao tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Trần Quang S, Lê Bạch V2, Lê Thế T4rủ nhau góp số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trong trong khuôn khổ giải vô địch bóng đá C, diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 10/7/2024, giữa đội tuyển Tây Ban Nha với đội tuyển Pháp, trong đó Trần Quang S góp số tiền 400.000 đồng, Lê Bạch V2 góp số tiền 200.000 đồng và Lê Thế T4 góp số tiền 400.000 đồng. Trần Quang S là người liên hệ đặt cược đánh bạc, Lê Bạch V2và Lê Thế T4không biết Trần Quang Sliên hệ với ai, đặt cược như thế nào. Sau đó, Trần Quang S gặp Lê Thanh H3 trao đổi việc tham gia đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá thì Lê Thanh H3 trả lời khi có người tham gia sẽ liên hệ cho Trần Quang S.
Vào khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Quang S sử dụng điện thoại di động số 0983.649.xxx liên hệ đến số máy 0981.990.xxx của Lê Thanh H3 để trao đổi việc đánh bạc. Lúc này, Lê Thanh H3 cùng với Hoàng Ngọc V đang đánh bóng bàn tại xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lê Thanh H3 mở loa ngoài của điện thoại để nói chuyện với Trần Quang S. Trần Quang S nói đang có số tiền 1.000.000 đồng và hỏi Lê Thanh H3 có ai đặt cược cá độ bóng đá (kèo) nào không, Hoàng Ngọc V nghe Trần Quang S nói vậy nên trả lời số tiền đặt cược ít quá và yêu cầu Trần Quang S đặt cược số tiền là 10.000.000 đồng.
Do chưa đủ số tiền cá cược, nên Trần Quang S gọi điện thoại đến số máy 0964.198.xxx của Vũ Đình H để trao đổi việc góp chung tiền để đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá ở trận đấu nêu trên, Trần Quang S nói với Vũ Đình H “ Bên anh V nhận kèo 10.000.000 đồng, tau có 1.000.000 đồng rồi” thì Vũ Đình H trả lời “ Vậy thì tau góp 9.000.000 đồng”. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, Trần Sỹ Đ1 (trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) liên hệ với Trần Quang S để góp số tiền 500.000 đồng cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá ở trận đấu trên. Sau đó, Trần Quang S trao đổi lại qua điện thoại với Vũ Đình H, H nhất trí cho Đ1 góp 500.000 đồng, do đó Vũ Đình H chỉ góp số tiền là 8.500.000 đồng để tham gia đánh bạc (Trần Sỹ Đ1 không biết Trần Quang S và Vũ Đình H đánh bạc với ai và sử dụng bao nhiêu tiền để đánh bạc).
Sau khi góp được số tiền là 10.000.000 đồng (gồm: Trần Quang S 400.000 đồng; Lê Thế T4400.000 đồng; Lê Bạch V2200.000 đồng; Vũ Đình H8.500.000 đồng; Trần Sỹ Đ1 500.000 đồng). Trần Quang S sử dụng điện thoại liên hệ với Lê Thanh H3 thì H3 mở loa ngoài của điện thoại để Trần Quang S và Hoàng Ngọc V trao đổi với nhau. Trần Quang S đưa ra kèo đặt cược đánh bạc “Tây Ban Nha chấp Pháp ¼”, có nghĩa là đội tuyển Tây Ban Nha chấp ¼ quả đội tuyển Pháp. Nếu đội tuyển Tây Ban Nha thắng, chọn Tây Ban Nha thì thắng số tiền đã đặt cược, chọn Pháp thì thua số tiền đã đặt cược. Nếu hai đội hòa nhau, chọn Tây Ban Nha thì thua nửa số tiền đặt cược, chọn Pháp thì thắng nửa số tiền đặt cược. Nếu đội tuyển Tây Ban Nha thua, chọn Tây Ban Nha thì thua số tiền đã đặt cược, chọn Pháp thì thắng số tiền đặt cược. Hoàng Ngọc V nhất trí đặt cược đánh bạc với số tiền là 10.000.000 đồng và chọn đội tuyển Tây Ban Nha.
Vào khoảng 21 giờ 30 đến 23 giờ ngày 09/7/2024, Vũ Đình H và Nguyễn Ngọc Đ ngồi chơi với nhau tại quán C1 1990 thuộc khối T, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An và trao đổi nội dung đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá đối với trận đá bóng trên. Vũ Đình H đưa ra kèo đặt cược đánh bạc “Đội tuyển P và đội tuyển Tây Ban N đánh ngang”, có nghĩa là nếu đội tuyển Tây Ban N thắng, chọn Tây Ban Nha thì thắng 84% số tiền đặt cược, chọn Pháp thì thua số tiền đã đặt cược. Nếu hai đội hòa nhau, không thắng, không thua số tiền nào cả. Nếu đội tuyển Tây Ban Nha thua, chọn Tây Ban Nha thì thua số tiền đặt cược, chọn Pháp thì thắng 84% số tiền đặt cược. Nguyễn Ngọc Đ nhất trí đặt cược số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng và chọn đội tuyển Tây Ban Nha.
Vào khoảng 23 giờ ngày 09/7/2024, Phan Đình T3 (trú tại xóm L, xã N, thị xã T) sử dụng số điện thoại 0974.339.xxx liên hệ với Vũ Đình H để hỏi kèo đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá. Vũ Đình H đưa ra kèo đội tuyển Tây Ban Nha chấp ¼ đội tuyển Pháp thì Phan Đình T3 đồng ý tham gia và chọn đội tuyển Tây Ban Nha, đặt cược số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng.
Kết thúc trận bóng đá giữa đội tuyển Tây Ban Nha và đội tuyển Pháp với kết quả là đội tuyển Tây Ban Nha thắng đội tuyển Pháp với tỉ số 2-1, hành vi đánh bạc của các đối tượng bị phát hiện sau khi có kết quả trận bóng đá nên số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau:
Đối với hành vi đánh bạc giữa Trần Quang S và Vũ Đình H với Hoàng Ngọc V, Trần Quang S là người liên hệ và đưa ra “kèo” đặt cược đánh bạc nên Trần Quang S và Vũ Đình H với vai trò là chủ cá độ, Hoàng Ngọc V là người tham gia đánh bạc. Hoàng Ngọc V đặt cược số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) cho đội tuyển Tây Ban N và thắng cược số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng) nên số tiền Hoàng Ngọc V tham gia đánh bạc cùng với Trần Quang S và Vũ Đình H là: 10.000.000 đ (mười triệu đồng) + 10.000.000 đ (mười triệu đồng) = 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng). Lê Thanh H3 với vai trò giúp sức cho Hoàng Ngọc V tham gia đánh bạc với số tiền nói trên. Các đối tượng Lê Bạch V2, Lê Thế T4, Trần Sỹ Đ1 góp tiền để Trần Quang S tham gia đánh bạc và bị thua.
Đối với hành vi đánh bạc giữa Vũ Đình H và Nguyễn Ngọc Đ, Vũ Đình H là người đưa ra “kèo” đặt cược nên Vũ Đình H với vai trò là chủ cá độ, Nguyễn Ngọc Đ là người tham gia đánh bạc, đặt cược số tiền 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) cho đội tuyển Tây Ban Nha và thắng được số tiền là: 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) x 84% = 5.040.000 đ (năm triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) nên số tiền Nguyễn Ngọc Đ tham gia đánh bạc với Vũ Đình H là 6.000.000 đ + 5.040.000 đ = 11.040.000 đ (mười một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Đối với hành vi đánh bạc giữa Vũ Đình H và Phan Đình T3, Vũ Đình H là người đưa ra “kèo” đặt cược nên Vũ Đình H với vai trò là chủ cá độ, Phan Đình T3 là người tham gia đánh bạc, chọn đội tuyển Tây Ban Nha, đặt cược số tiền 1.000.000 đ (một triệu đồng) và thắng cược số tiền 1.000.000 đ (một triệu đồng) nên số tiền Phan Đình T3 tham gia đánh bạc với Vũ Đình H là: 1.000.000 đồng (một triệu đồng) + 1.000.000 đ (một triệu đồng) = 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Quá trình điều tra xác định, trước khi trận bóng đá diễn ra, Lê Thế T4 đã chuyển số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) cho Trần Quang S để góp tiền đánh bạc. Sau khi có kết quả trận bóng đá, Vũ Đình H đã chuyển số tiền 8.500.000 đ (tám triệu, năm trăm nghìn đồng) cho Trần Quang S để thanh toán số tiền đánh bạc đã thua. Trần Quang S đã chuyển số tiền 9.900.000 đ (chín triệu chín trăm nghìn đồng) để thanh toán số tiền đánh bạc cho Hoàng Ngọc V. Lê Bạch V2 đã chuyển số tiền 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) cho Trần Quang S để thanh toán số tiền đã góp tham gia đánh bạc trước đó. Nguyễn Ngọc Đ, Phan Đình T3 và Vũ Đình H chưa thanh toán số tiền đánh bạc với nhau; Trần Sỹ Đ1 chưa thanh toán số tiền đã góp tham gia đánh bạc cho Trần Quang S.
Như vậy hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 10/7/2024, giữa đội tuyển Tây Ban Nha với đội tuyển Pháp các đối tượng sử dụng số tiền cụ thể như sau:
- + Vũ Đình H tham gia tất cả các “kèo” cá cược nói trên trong cùng một trận bóng đá nên tổng số tiền Vũ Đình H tham gia đánh bạc với các con bạc là 20.000.000 đ + 11.040.000 đ + 2.000.000 đ = 33.040.000 đồng (ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
- + Trần Quang S sử dụng số tiền đánh bạc với Hoàng Ngọc V là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- + Hoàng Ngọc V sử dụng số tiền đánh bạc với Trần Quang S và Vũ Đình H là 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng). Lê Thanh H3 với vai trò giúp sức cho Hoàng Ngọc V tham gia đánh bạc với số tiền nói trên.
- + Nguyễn Ngọc Đ sử dụng số tiền đánh bạc với Vũ Đình H là 11.040.000 đồng (mười một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng).
- + Phan Đình T3 sử dụng số tiền đánh bạc với Vũ Đình H là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- + Lê Bạch V2 sử dụng số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc.
- + Lê Thế T4 sử dụng số tiền 400.00 đồng (bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc.
- + Trần Sỹ Đ1 sử dụng số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc.
Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã thu giữ:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11, màu đen, số IMEI: 353985103293200, gắn sim: 0983.694.995, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quang S.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355357080962819, gắn sim số 0924.727.519, đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Ngọc V.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353908100261939, lắp sim số 0981.990.986, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thanh H3.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số ΙΜΕΙ 353910101372517, lắp sim số 0964.198.575, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Đình H.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 352844114430783, lắp sim số 0971.817.619, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu đen, số IMEI 1: 352766249088808, số IMEI 2: 352766249088816, lắp sim số 0974.339.895, đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Đình T3.
Quá trình điều tra vụ án Vũ Đình H, Trần Quang S, Hoàng Ngọc V, Lê Thanh H3 và Nguyễn Ngọc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố các bị cáo Vũ Đình H, Trần Quang S, Hoàng Ngọc V, Lê Thanh H3 và Nguyễn Ngọc Đ đã phạm vào tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà hôm nay Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 điểm Điều 58; Điều 65- BLHS.
- + Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách từ 30 ( ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024 .
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Trần Quang S từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 ( mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách từ 24 ( hai mươi tư) tháng đến 30(ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 09 (chín) tháng tù đến 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách từ 18 ( mười tám) tháng đến 24 ( hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều ; 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh H3 09 (chín) tháng tù đến 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách từ 18 ( mười tám ) tháng đến 24 ( hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.
- Giao các bị cáo Vũ Đình H, Trần Quang S, Lê Thanh H3 và Hoàng Ngọc V về cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 09 (chín ) tháng tù đến 12 ( mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng các Điều 55, 56- Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là: 45 ( bốn mươi lăm) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 10/7/2024 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/02/2024 đến ngày 21/02/2024.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước các vật chứng gồm:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11, màu đen, số IMEI: 353985103293200, gắn sim: 0983.694.995, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quang S;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355357080962819, gắn sim số 0924.727.519, đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Ngọc V;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353908100261939, lắp sim số 0981.990.986, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thanh H3;
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 353910101372517, lắp sim số 0964.198.575, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Đình H;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu đen, số IMEI 1: 352766249088808, số IMEI 2: 352766249088816, lắp sim số 0974.339.895, đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Đình T3.
Trả lại bị cáo Nguyễn Ngọc Đ cho 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 352844114430783, lắp sim số 0971.817.619, đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên đã được niêm phong theo đúng quy định đã chuyển đến kho vật chứng Chi cục THADS thị xã Tăngày 02/10/2024 để bảo quản, chờ xử lý.
*Biện pháp tư pháp:
- +Truy thu tại bị cáo Hoàng Ngọc V số tiền 19.900.000 đồng.
- + Truy thu tại bị cáo Vũ Đình H số tiền 6.040.000đồng;
- + Truy thu tại bị cáo Trần Quang S số tiền 100.000đồng;
- + Truy thu tại bị cáo Nguyễn Ngọc Đ số tiền 6.000.000 đồng;
- Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Sỹ Đ1, anh Phan Đình T3, anh Lê Bạch V2, anh Lê Thế T4 đều tham gia đánh bạc số tiền dưới 5.000.000đ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Điều tra đã xử phạt hành chính về hành vi trên và buộc khắc phục hậu quả đối với anh Phan Đình T3 số tiền 1.000.000 đồng, anh Trần Sỹ Đ1 số tiền 500.000 đồng là phù hợp.
Bị cáo H có dùng chung tài khoản ngân hàng với chị Bùi Thị D; ngày 10/7/2024, Vũ Đình H đã chuyển khoản số tiền 8.500.000 đồng tiền bị cáo thua bạc; việc bị cáo H chuyển tiền thì chị D không biết. Nay chị D không có ý kiến, yêu cầu gì về số tiền trên nên không xem xét.
Các bị cáo nói lời sau cùng:Vũ Đình H, Trần Quang S,Hoàng Ngọc V, Lê Thanh H3và Nguyễn Ngọc Đ thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người chứng kiến và cũng phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, từ đó xác định được:
Vào ngày 09/7/2024, Vũ Đình H, Trần Quang S, Hoàng Ngọc V, Lê Thanh H3, Nguyễn Ngọc Đ đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trong trong khuôn khổ giải vô địch bóng đá C, diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 10/7/2024, giữa đội tuyển Tây Ban Nha với đội tuyển Pháp, cụ thể:
Vào khoảng 21 giờ 30 đến 23 giờ ngày 09/7/2024, tại quán C1 thuộc khối T, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Vũ Đình H và Nguyễn Ngọc Đ đánh bạc với nhau bằng hình thức cá độ bóng đá đối với trận bóng đá trên. Vũ Đình H đưa ra kèo đặt cược đánh bạc “Đội tuyển P và đội tuyển Tây Ban N đánh ngang”. Nguyễn Ngọc Đ nhất trí đặt cược số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng và chọn đội tuyển Tây Ban Nha. Kết quả Nguyễn Ngọc Đ thắng với số tiền 5.040.000 đồng ( năm triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Vào khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Quang S sử dụng điện thoại di động liên hệ với Lê Thanh H3 và trao đổi việc đánh bạc với Hoàng Ngọc V. S đề nghị đánh bạc số tiền là 1.000.000 đồng nhưng V không nhận, V yêu cầu đánh bạc số tiền 10.000.000 đồng. Do chưa đủ số tiền cá cược, nên Trần Quang S gọi điện thoại cho Vũ Đình H để rủ đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá ở trận đấu nêu trên. Vũ Đình H đồng ý góp 9.000.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, Trần Sỹ Đ1 liên hệ với Trần Quang S để góp số tiền 500.000 đồng cùng tham gia đánh bạc nên Trần Quang S tiếp tục gọi điện thoại trao đổi với Vũ Đình H. H nhất trí cho Đ1 góp 500.000 đồng để đánh bạc. Nên Vũ Đình H góp số tiền là 8.500.000 đồng để tham gia đánh bạc. (Trần Sỹ Đ1 không biết Trần Quang S và Vũ Đình H đánh bạc với ai và sử dụng bao nhiêu tiền để đánh bạc). Sau khi góp đủ được số tiền là 10.000.000 đồng thì S sử dụng điện thoại liên hệ lại với Lê Thanh H3. H3 tiếp tục mở điện thoại cho Trần Quang Svà Hoàng Ngọc Vtrao đổi với nhau. Trần Quang S đưa ra kèo đặt cược đánh bạc “Tây Ban Nha chấp Pháp ¼”. Hoàng Ngọc V nhất trí đặt cược đánh bạc với số tiền là 10.000.000 đồng và chọn đội tuyển Tây Ban Nha. Kết quả Hoảng Ngọc V3 thắng số tiền 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Vào khoảng 23 giờ ngày 09/7/2024, Phan Đình T3 liên hệ với Vũ Đình H để hỏi kèo đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá. Vũ Đình H đưa ra kèo đội tuyển Tây Ban Nha chấp ¼ đội tuyển Pháp thì Phan Đình T3 đồng ý tham gia và chọn đội tuyển Tây Ban Nha, đặt cược số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng. Phan Đình T3 đã thắng số tiền 1.000.000 đồng.
Như vậy, bị cáo Vũ Đình H sử dụng số tiền để tham gia đánh bạc với Trần Quang S, Nguyễn Ngọc Đ và Phan Đình T3 là 33.040.000 đồng (ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bị cáo Trần Quang S đánh bạc với Vũ Đình H, Lê Thanh H3 số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Hoàng Ngọc V đánh bạc thông qua bị cáo Lê Thanh H3, số tiền V sử dụng đánh bạc với Trần Quang S và Vũ Đình H là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Bị cáo Lê Thanh H3 với vai trò giúp sức cho bị cáo Hoàng Ngọc V tham gia đánh bạc với Trần Quang S số tiền 20.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ đánh bạc với bị cáo Vũ Đình H, số tiền Đ sử dụng đánh bạc là 6.000.000 đồng, thắng bạc số tiền 5.040.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Đ đánh bạc là 11.040.000 đồng (mười một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hành vi của Vũ Đình H, Trần Quang S, Hoàng Ngọc V, Lê Thanh H3và Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Đánh bạc” nên H, S, V, H3, Đ đã phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hình sự.
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng chống các tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn đánh bạc trên địa bàn thị xã T. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền hay hiện vật dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ xem thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Như vậy mới có tác dụng phòng ngừa tội phạm và giáo dục chung trong xã hội.
[3]Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cũng như nhân thân của từng bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có nhân thân xấu, ngày 02/01/2011, Nguyễn Ngọc Đ bị công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 18/9/2024 bị TAND thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An xử phạt 3 năm tù về tội “Đánh bạc".
Bị cáo Lê Thanh H3 bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt tiền số tiền 23.000.000 đồng tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 29/6/2018. Bị cáo đã thi hành xong hình phạt ngày 06/9/2018.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo Hoàng Ngọc V, Vũ Đình Hvà Trần Quang Sđều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Lê Thanh H3, Hoàng Ngọc V, Trần Ngọc Đ2 sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; bị cáo Nguyễn Ngọc Đ có mẹ là bà Cao Thị H6 được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; bị cáo Lê Thanh S2 có bà ngoại là Nguyễn Thị M được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Vũ Đình H có bà ngoại là bà Nguyễn Thị Thu M được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, năm 2022 bị cáo H đã có thành tích trong việc cứu giúp người bị đuối nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Phân hóa vai trò, vị trí và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn. Hội đồng xét xử đánh giá vai trò, vị trí của các bị cáo như sau: Các bị cáo đều là những người thực hành tích cực, trực tiếp tham gia vào đánh bạc.
Bị cáo Vũ Đình H là người nhận tất cả các cá cược của các bị cáo khác và là người đứng ra thanh toán tiền thắng bạc. Số tiền bị cáo đánh bạc với Đ là 11.040.000đ; đánh bạc với S2, V, H3 số tiền 20.000.000đ; bị cáo đánh bạc với anh T3 số tiền 2.000.000đ. Tổng số tiền bị cáo H tham gia đánh bạc là 33.040.000đ ( Ba mươi ba triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng). Nên bị cáo Vũ Đình H phải chịu trách nhiệm hình sự ở vai trò đầu vụ.
Bị cáo Trần Thanh S3 bỏ ra số tiền 400.000đồng trong tổng số tiền 10.000.000₫ mà các bị cáo S3, H, anh Đ1, anh V và anh T4 góp lại. Bên cạnh đó, bị cáo S3 là người tích cực giúp sức trong việc liên lạc, chuyển tiền đánh bạc giữa bị cáo H và bị cáo H3, bị cáo Vvà những người liên quan như anh Trần Sỹ Đ1, anh Lê Bạch V2, anh Lê Thế T4nên bị cáo S3 phải chịu trách nhiệm hình sự số đối với số tiền đánh bạc tương đương bị cáo H3, bị cáo V2 số tiền đánh bạc là 20.000.000đ và phải chịu trách nhiệm hình sự ở vị trí thứ hai.
Bị cáo Hoàng Ngọc V đánh bạc số tiền 10.000.000 đồng, thắng bạc số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền V đánh bạc là 20.000.000 đồng; Bị cáo Lê Thanh H3 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng bị cáo H3 là người có nhân thân xấu, H3 đã tích cực giúp sức liên lạc việc đánh bạc giữa bị cáo S3 với bị cáo V nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương với bị cáo Hoàng Ngọc V.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ sử dụng số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, tổng số tiền thắng bạc là 5.040.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Đ đánh bạc là 6.000.000 đồng + 5.40.000 đồng = 11.040.000 đồng (Mười một triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng), bị cáo có nhân thân xấu nên bị cáo Nguyễn Ngọc Đ chịu trách nhiệm hình sự tương đương bị cáo V, bị cáo H3.
[5] Căn cứ vào tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, vị trí, vai trò, mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ là người có nhân thân xấu, ngày 02/01/2011, Đbị công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; ngày 18/9/2024 bị Toà án thị xã T, tỉnh Nghệ An xét xử 03 năm tù về tội “ Đánh bạc”. Do bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đang bị khởi tố điều tra về hành vi đánh bạc lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên cần phải cách ly bị cáo Đ ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Đồng thời cần áp dụng các Điều 55, 56- BLHS để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án.
Bị cáo Lê Thanh H3 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng bị cáo là người có vai trò tích cực giúp sức cho bị cáo V đánh bạc với bị cáo S3; bị cáo H3 có nhân thân xấu, năm 2018 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 23.000.000 đồng về hành vi đánh bạc; các bị cáo Trần Quang S, Hoàng Ngọc V, Vũ Đình H đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, số tiền đánh bạc không lớn. Các bị cáo H3, S, V và H đều có nơi cư trú rõ ràng nên tạo cơ hội để các bị cáo được cải tạo tại địa phương, hòa nhập cộng đồng vì vậy cần áp dụng Điều 65 -BLHS xử phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo H, Đ, S, H3 và V4 đều có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.
[7] Về vật chứng của vụ án gồm: Áp dụng điều 47- BLHS, điểm a, c khoản 1 điều 106 – BLTTHS.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 352844114430783, lắp sim số 0971.817.619, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ. Vì không sử dụng vào việc đánh bạc.
Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước các vật chứng gồm:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11, màu đen, số IMEI: 353985103293200, gắn sim: 0983.694.995, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quang S.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355357080962819, gắn sim số 0924.727.519, đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Ngọc V.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353908100261939, lắp sim số 0981.990.986, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thanh H3.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 353910101372517, lắp sim số 0964.198.575, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Đình H.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu đen, số IMEI 1: 352766249088808, số IMEI 2: 352766249088816, lắp sim số 0974.339.895, đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Đình T3.
Các vật chứng nêu trên đã được niêm phong theo đúng quy định chuyển đến kho vật chứng Chi cục THADS thị xã T bảo quản, chờ xử lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 02/10/2024.
* Biện pháp tư pháp:
- Bị cáo V sử dụng số tiền đánh bạc 10.000.000đ và thắng bạc số tiền 10.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 20.000.000đ. Bị cáo mới nhận từ bị cáo S số tiền 9.900.000 đồng tiền thắng bạc. Nên truy thu tại bị cáo Hoàng Ngọc V số tiền 19.900.000 đồng.
- Bị cáo S đã chuyển tiền thắng bạc cho bị cáo V số tiền 9.900.000 đồng nên cần truy thu tại bị cáo S số tiền 100.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ sử dụng số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc số tiền 5.040.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 11.040.000 đồng. Do bị cáo H chưa chuyển số tiền thắng bạc cho bị cáo Đ nên truy thu tại bị cáo Đ số tiền 6.000.000 đồng.
- Bị cáo H là người nhận tiền đánh bạc của các bị cáo và trả tiền thắng bạc cho những người tham gia đánh bạc. Bị cáo H phải thanh toán tiền thắng bạc cho các bị cáo số tiền là 14.540.000 đồng (gồm 8.500.000đ tiền thắng bạc của bị cáo S; 5.040.000 đồng tiền thắng của bị cáo Đ và 1.000.000 đồng tiền thắng của anh T3). Bị cáo H đã thanh toán cho bị cáo S số tiền 8.500.000 đồng nên cần truy thu tại bị cáo H số tiền còn lại 6.040.000 đồng.
[7] Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Sỹ Đ1, anh Phan Đình T3, anh Lê Bạch V2, anh Lê Thế T4 đều tham gia đánh bạc số tiền dưới 5.000.000đ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Điều tra đã xử phạt hành chính về hành vi trên và buộc khắc phục hậu quả đối với anh Phan Đình T3 số tiền 1.000.000 đồng, anh Trần Sỹ Đ1 số tiền 500.000 đồng. Nên hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Vũ Đình H có dùng chung tài khoản Ngân hàng với chị Bùi Thị D, ngày 10/7/2024 bị cáo H đã chuyển khoản số tiền 8.500.000đ, việc bị cáo H chuyển tiền thì chị D không biết, chị D không có ý kiến, yêu cầu gì về số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 điểm Điều 58; Điều 65- BLHS.
- + Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024 .
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Trần Quang S 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc ”. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024 .
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều; 65- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh H3 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/10/2024.
- Giao bị cáo Vũ Đình H, Trần Quang S, Lê Thanh H3 và Hoàng Ngọc V về cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55, Điều 56- BLHS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt với 03(ba) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 70/2024/QĐ-CA ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 10/7/2024 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/02/2024 đến ngày 21/02/2024 theo bản án hình sự số 37/2024/HSST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.T5:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 352844114430783, lắp sim số 0971.817.619, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước các vật chứng gồm:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11, màu đen, số IMEI: 353985103293200, gắn sim: 0983.694.995, đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Quang S;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355357080962819, gắn sim số 0924.727.519, đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Ngọc V;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353908100261939, lắp sim số 0981.990.986, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Thanh H3;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI 353910101372517, lắp sim số 0964.198.575, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Đình H;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu đen, số IMEI 1: 352766249088808, số IMEI 2: 352766249088816, lắp sim số 0974.339.895, đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Đình T3.
Toàn bộ vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Thái Hòa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2024.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, điểm a khoản 1 điều 47 BLHS. Truy thu tại các bị cáo số tiền sử dụng vào việc đánh bạc để nộp vào ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:
- + Truy thu tại bị cáo Hoàng Ngọc V số tiền 19.900.000đ (Mười chín triệu, chín trăm nghìn đồng).
- + Truy thu tại bị cáo Trần Quang S số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
- + Truy thu tại bị cáo Nguyễn Ngọc Đ số tiền 6.000.000đ ( Sáu triệu đồng).
- + Truy thu tại bị cáo Vũ Đình H số tiền còn lại 6.040.000đ ( Sáu triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Áp dụng điều 136- BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ( Kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án).
Buộc các bị cáo Vũ Đình H, Trần Quang S, Lê Thanh H3, Hoàng Ngọc V và Nguyễn Ngọc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN về đánh bạc
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST Vũ Đinh H Đánh bạc
