|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 50/2024/DSST Ngày: 30/9/2024 V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHỐ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Văn Tiến
- 2. Ông Lê Cát Tường
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP. Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2024/TLST - DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử" số 2376/2024/QĐXXST- DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và “Quyết định hoãn phiên tòa” số 144/2024/QĐST-DS ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T3.
Địa chỉ: Tòa nhà T, số E phố L, P. T, Q. H, TP
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T, chức vụ: Phó phòng phụ trách phòng tố tụng xử lý nợ - T4.
Người được ủy quyền lại:
- Ông Ngô Văn L1, chức vụ: Chuyên viên chính - Trung tâm xử lý nợ 1 - khối xử lý và thu hồi nợ T3.
- Ông Nguyễn Mạnh H, chức vụ: Chuyên viên - Trung tâm xử lý nợ 1 - khối xử lý và thu hồi nợ T3.
- Ông Phạm Thanh V, chức vụ: Chuyên viên - Phòng khách hàng cá nhân - T3.
Cùng địa chỉ: C T, P. B, TP., tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: 1. Ông Chu Hữu T1, sinh năm 1985
2. Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1986.
Cùng ĐKTT tại: 0 L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
1
Cùng địa chỉ liên lạc: SN B đường K, phường Đ thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP T3 trình bày:
Ngày 15/12/2021 ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q ký với Ngân hàng TMCP T3 (sau đây gọi là T5) “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” (sau đây gọi tắt là hợp đồng vay) số 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01. Theo nội dung hợp đồng ông T1 bà Q vay của T5 số tiền 340.000.000đ để mua xe ô tô; Lãi suất theo quy định chung của T5; Thời hạn vay 96 tháng tính từ ngày giải ngân 15/12/2021; Phương thức giải ngân là: Chuyển khoản cho Công ty cổ phần P1 để thanh toán tiền mua xe ôtô; Phương thức trả nợ: Trả vào ngày 10 hàng tháng, gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng theo dư nợ thực tế.
Ngoài nội dung hợp đồng vay (nêu trên) ông T1 bà Q còn phải chấp thuận sự ràng buộc của bản “Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô” (sau đây gọi tắt là bản điều khoản chung) của T5 (bộ phận không tách rời của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô”)
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên được thống nhất tại “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” số 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01 là: Xe ô tô NISSAN biển kiểm soát 36A-709.24 thuộc sở hữu của ông T1 theo hợp đồng mua bán xe ô tô 01.21.0083 ngày 30/11/2021 giữa ông Chu Hữu T1 và Công ty cổ phần P1.
Căn cứ “Hợp đồng vay” và “Bản điều khoản chung” mà ông T1 bà Q đã ký với T5, ngày 15/12/2021 T5 đã thực hiện giải ngân và đã chuyển khoản số tiền 340.000.000đ cho Công ty cổ phần P1 để thanh toán tiền ông T1 mua xe ô tô. Sau đó ông T1 đã nhận xe và giao lại đăng ký xe cho T5 quản lý theo thỏa thuận tại hợp đồng vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông T1 bà Q đã trả cho T5 một phần nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng. Tổng số nợ ông T1 bà Q đã trả là 99.990.770đ (gồm tiền gốc 56.935.096₫, tiền lãi 43.055.674₫). Từ cuối tháng 5/2023 ông T1 bà Q không thanh toán nợ gốc, lãi cho T5. T5 đã đôn đốc nhắc nhở ông T1 bà Q trả nợ nhưng ông bà không thực hiện.
Do đó T5 khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q trả cho T5 toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ “Đề nghị cho vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” số HD: 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01 ngày 15/12/2021 đã ký giữa T5 với ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q. Số nợ tính đến ngày 01/3/2024 là 319.405.774₫ (gồm nợ gốc là 283.064.904₫, nợ lãi là 36.340.870đ). Đồng thời yêu cầu ông T1 bà Q tiếp tục thanh toán lãi và các khoản phát sinh theo hợp đồng đã ký đối với tổng số nợ chưa thanh toán kể từ ngày 02/3/2024 đến ngày ông T1, bà Q thực tế thanh toán hết toàn
2
bộ nợ cho T4. Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông T1, bà Q không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho T4 thì T4 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô NISSAN, màu đỏ số khung MNTBAAN18Z0034811, số máy HRA0039355E, biển kiểm soát 36A-709.24 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36* 020946 do Công an tỉnh T cấp ngày 10/12/2021 mang tên Chu Hữu T1 để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T1, bà Q có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T5 bằng tài sản khác của ông T1 bà Q.
Về phía bị đơn ông Lê Hữu T2 bà Hoàng Thị Q:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương phường Đ và phương Đ (là nơi thường trú và địa chỉ liên lạc của ông T2 bà Q khi ký hợp đồng), Công an phường Đ xác định: Ông T2 bà Q đã đi khỏi địa phương hiện không cư trú, sinh sống tại địa chỉ: 0 L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; không báo cáo đi đâu, làm gì; Công an phường Đ xác định: Ông T2 bà Q không cư trú tại địa chỉ SN B đường K, phường Đ thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Hiện ông T2 bà Q sinh sống ở đâu địa phương không biết. Tòa án đã niêm yết hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng và triệu tập nhưng ông T2 bà Q không có mặt làm việc và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào tới Tòa án.
Đối với tài sản thế chấp: Từ khi ký các hợp đồng (nêu trên) xe ô tô do ông T2 bà Q quản lý sử dụng; Giấy chứng nhận đăng ký xe T5 quản lý. Hiện tại ông T2 bà Q đã đi khỏi nơi cư trú, không rõ ông bà và xe ô tô hiện ở đâu nên T5 không yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.
Tại phiên hòa giải ngày 15/7/2024 ông T2 bà Q không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã niên yết thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T2 bà Q
Ngày 16/8/2024, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đã được niêm yết hợp lệ cho ông T2 bà Q. Tại phiên tòa ngày 13/9/2023, người đại diện theo ủy quyền của T5 có mặt; ông T2 bà Q vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt; HĐXX quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian xét xử lại vụ án vào hồi 07 giờ 30 ngày 30/9/2024. Quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt, niêm yết hợp lệ cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay,
ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q vắng mặt; Đại diện của T5 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Đối với số tiền ông T1 bà Q còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 343.136.877₫ (trong đó nợ gốc 283.064.904đ, nợ lãi trong hạn 48.429.975; nợ lãi quá hạn 7.872.195đ; Lãi chậm trả 3.769.803₫).
Ý kiến của đại diện VKS:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của S kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Ông Chu Hữu T1 bà Hoàng Thị Q không chấp hành quy định. Tại phiên
3
tòa ông T1 bà Q vắng mặt lần thứ 2, VKS đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt
Về nội dung vụ án: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của T5, buộc ông Chu Hữu T1 bà Hoàng Thị Q thanh toán cho T5 toàn bộ số tiền ông T1 bà Q còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 343.136.877₫ (trong đó nợ gốc 283.064.904₫, nợ lãi trong hạn 48.429.975; nợ lãi quá hạn 7.872.195₫; Lãi chậm trả 3.769.803đ); Đồng thời buộc ông T1 bà Q tiếp tục chịu lãi đối với số tiền nợ theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng đã ký với T5 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả hết toàn bộ nợ cho T5. Trường hợp ông T1, bà Q không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ tiền nợ thì T4 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông T1, bà Q phải trả hết khoản nợ cho T5 bằng tài sản khác của ông T1 bà Q; Về án phí: Ông toàn bà Q phải chịu án phí dân sự có gia ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP T3 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn cư trú tại thành phố T do đó TAND TP thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q không còn sinh sống tại địa chỉ khi giao kết hợp đồng (phường Đ và phường Đ thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Hiện tại ông T1 bà Q ở đâu không thông báo cho T5 và Tòa án biết địa chỉ là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy Tòa án căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 để giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, T5 không yêu cầu thông báo cho ông T1 bà Q trên phương tiện thông tin đại chúng; Tòa án đã niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng (gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa (có ấn định thời gian mở lại phiên tòa) cho ông Chu Hữu T1 bà Hoàng Thị Q. Tại phiên tòa hôm nay ông T1 bà Q vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Đảm bảo thời hiệu quy định tại Điều 429 - Bộ luật dân sự.
4
[3] Về hiệu lực của hợp đồng
Ngày 15/12/2021 ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q ký với T5 “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” số 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01. Đồng thời chấp thuận sự ràng buộc của bản “Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô” của T5 (bộ phận không tách rời của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô”). Hợp đồng đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa; Tài sản thế chấp đã được chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định.
Nội dung các hợp đồng (nêu trên) các bên thỏa thuận về số tiền vay; Mục đích vay; Lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả; Thời hạn giải ngân; Phương thức giải ngân; Phương thức và kỳ hạn thanh toán; Trường hợp thu nợ trước hạn; Trường hợp được coi là vi phạm hợp đồng; Xử lý vi phạm hợp đồng; Biện pháp bảo đảm, tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bảo đảm, phạm vi bảo đảm; Xử lý tài sản bảo đảm khi có vi phạm; Quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, giả tạo, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp; Nội dung và hình thức bản “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô”, bản “Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô” phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó các hợp đồng trên có hiệu lực.
[4] Về nội dung yêu cầu của TPBank
TPBank yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1 bà Q thanh toán cho T5 toàn bộ số tiền ông T1 bà Q còn nợ tính đến ngày ngày 27/9/2024 là 343.136.877₫ (trong đó nợ gốc 283.064.904₫, nợ lãi trong hạn 48.429.975; nợ lãi quá hạn 7.872.195₫; Lãi chậm trả 3.769.803đ); Buộc ông T1 bà Q tiếp tục chịu lãi đối với số tiền nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký với T5 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả hết tòan bộ nợ cho T5. Trường hợp ông T1 bà Q không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho T5 thì T5 được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông T1, bà Q phải trả hết khoản nợ cho T5 bằng tài sản khác của ông T1 bà Q.
HĐXX xét, theo nội dung bản “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” số 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01 ngày 15/12/2021; Và bản “Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô” đã ký giữa ông Chu Hữu T1, bà Hoàng Thị Q với T5, T5 đồng ý cho ông T1 bà Q vay số tiền 340.000.000₫ để mua xe ô tô; Tại “Phiếu hạch toán” ngày 16/12/2021 T5 đã thực hiện chuyển khoản số tiền 340.000.000đ cho đơn vị bán xe, nội dung “ông Chu Hữu T1 thanh toán tiền mua xe ô tô”. Ông Chu Hữu T1 cũng đã giao lại cho T5 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô theo thỏa thuận về thế chấp giữa các bên. Như vậy T5 đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận tại mục 9.6 Điều 9 bản điều khoản chung.
5
Về phía ông T1 bà Q, theo thỏa thuận, hàng tháng ông T1 bà Q phải trả cho T5 6.942.000đ (gốc và lãi). Song quá trình thực hiện hợp đồng (Thể hiện tại các giao dịch chuyển khoản trả nợ tiền gốc, lãi từ tài khoản của ông T1 đến T5) ông T1 bà Q mới trả cho T5 tổng số tiền 99.990.770đ (trong đó trả nợ gốc 56.935,096, nợ lãi 43.053.674). Từ tháng 5/2023 ông T1 bà Q không trả nợ gốc, lãi cho T5. T5 đã đôn đốc nhắc nhở ông T1 bà Q trả nợ nhưng ông bà không thực hiện. Như vậy, ông T1 bà Q đã vi phạm thỏa thuận của các bên về “Phương thức trả nợ”; Vi phạm “cam kết của bên vay" (Theo thỏa thuận của các bên tại mục 4 mục 7 mục 8 phần 5 của “Hợp đồng vay”); Vi phạm quy định về thanh toán khoản vay; và thuộc trường hợp vi phạm hợp đồng (Theo quy định tại mục 2.4 Điều 2; điểm c tiểu mục 3.1.1 Điều 3 của “Điều khoản chung”). Vì vậy, T5 chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn, thu lãi quá hạn, lãi chậm trả và phạt vi phạm; Đồng thời thu hồi nợ trước hạn toàn bộ khoản nợ là đúng với thỏa thuận của các bên tại mục 2.6, mục 2.8 Điều 2; Mục 3.2, mục 3.3 Điều 3 của “Điều khoản chung".
Ngoài ra, tại mục 5 “Hợp đồng cho vay”; mục 6.1, mục 6.2 Điều 6; Mục 8.12, mục 8.13, mục 8.14 Điều 8 “Bản điều khoản chung” các bên cũng thống nhất: Trường hợp ông T1 bà Q không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ thì T5 được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu tài sản thế chấp không đủ thanh toán khoản nợ thì ông T1 bà Q có nghĩa vụ thanh toán hết nợ cho T5 bằng tài sản khác của ông T1 bà Q.
Như vậy, yêu cầu của T5 phù hợp với thỏa thuận của các bên tại các hợp đồng đã ký; Phù hợp quy định tại Điều 91, 95 - Luật các tổ chức tín dụng. Điều 299; 301; khoản 6 Điều 320; khoản 5 Điều 323; Điều 466, Điều 468 - BLDS và Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu đòi nợ của T5 được Tòa án chấp nhận vì vậy ông T1 bà Q phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 24; khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 và chịu trách nhiệm liên đới trong việc nộp án phí.
Dành quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì những lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 - BLTTDS.
Điều 299; Điều 301; khoản 6 Điều 320; khoản 5 Điều 323; Điều 466; Điều 468 - BLDS
Điều 91, 95 - Luật các tổ chức tín dụng.
Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6
Điều 24; khoản 2 Điều 26 - NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
Xử:
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP T3. Buộc ông Chu Hữu T1, bà Hoàng Thị Q có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP T3 toàn bộ số tiền nợ phát sinh từ “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô” số 40/2021/DNVV-HDTD/LSN/01 ngày 15/12/2021 và bản “Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô” ký kết giữa T5 với ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q. Số nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 343.136.877₫ (Ba trăm bốn ba triệu một trăm ba sau ngàn tám trăm bảy bảy đồng). Trong đó nợ gốc 283.064.904₫, nợ lãi trong hạn 48.429.975; Nợ lãi quá hạn 7.872.195₫; Lãi chậm trả 3.769.803₫;
Đồng thời buộc ông T1 bà Q tiếp tục chịu lãi đối với số tiền nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký với T5 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả hết toàn bộ nợ cho T5.
Trường hợp ông Chu Hữu T1 và bà Hoàng Thị Q không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ cho Ngân hàng TMCP T3 thì Ngân hàng TMCP T3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô NISSAN, màu đỏ số khung MNTBAAN18Z0034811 số máy HRA0039355E, biển kiểm soát 36A-709.24 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 36* 020946 do Công an tỉnh T cấp ngày 10/12/2021 mang tên ông Chu Hữu T1 để thu hồi nợ;
Trường hợp tài sản thế chấp (nêu trên) không đủ trả nợ cho T5 thì T5 có quyền xử lý tài sản khác thuộc sở hữu của ông T1 bà Q để thu hồi nợ.
Về án phí:
Ông Chu Hữu T1 bà Hoàng Thị Q phải chịu 17.126.950đ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và có nghĩa vụ liên đới trong việc nộp án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần T3 không phải chịu án phí và được nhận lại 7.985.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001500 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.
Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP T3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Chu Hữu T1 bà Hoàng Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
7
|
Nguyễn Thị Nga |
|
8 |
|
Bản án số 50/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 50/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TP-- Chu Hữu T (Tranh chấp HĐTD)
