|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/DS -ST Ngày: 27/9/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thành và ông Lê Mạnh Hùng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huê -Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2024/TLST-DS ngày 01/4/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXX-ST ngày 15/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB)
Địa chỉ: A L, phường T, quận C, TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – chủ tịch Hội đồng quản trị
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện: Công ty TNHH quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: C L, phường L, quận B, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D – chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện: Ông Vũ Hồng H – Giám đốc chi nhánh H2.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T1. Địa chỉ: Lầu E, số E C, phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc C, sinh năm 1986 (vắng mặt không lý do)
Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1993 (vắng mặt không lý do)
Cùng nơi thường trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Cùng địa chỉ nơi cư trú: Khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phúc L, sinh năm 1992.
Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q ( gọi tắt là M) đã ký Hợp đồng cho vay với Bên vay là ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1. Hợp đồng tín dụng trên có nội dung cơ bản như sau: Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022:
- Số tiền cho vay: 10.000.000.000 đồng;
- Mục đích vay: Thanh toán trực tiếp tiền mua 03 bất động sản: Thửa đất số 308 + 310; Tờ bản đồ số 07; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, Tp Đ, tỉnh Bình Phước
- Lãi suất: Theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022.
Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1. Ông Nguyễn Phúc L đã thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số 5864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Địa chỉ: ấp H, xã T, Thị xã Đ (Nay là TP Đ), tỉnh Bình Phước. Hợp đồng thế chấp số 52143.22.111.2279915.BĐ ngày 13/10/2022. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định.
Sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán, dư nợ sau khi giải ngân và đến các kỳ hạn trả nợ gốc và lãi, Bên vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q, vi phạm nghiêm trọng các cam kết tại hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký. Kể từ thời điểm Bên vay không thực hiện trả nợ gốc và lãi theo hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, đôn đốc, yêu cầu ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải trả nợ nhưng bên vay thường xuyên trì hoãn, kéo dài thời gian trả nợ. Đến nay, bên vay vẫn không thu xếp tài chính để trả nợ, không chủ động làm việc với Ngân hàng để xử lý khoản nợ.
Như vậy, bên vay đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với MB theo các Hợp đồng tín dụng và các văn bản, giấy tờ khác có liên quan đã ký với Ngân hàng TMCP Q. Tại đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q cung cấp số nợ gốc của khách hàng là 9.499.662.373 đồng; nay Ngân hàng TMCQ xác định lại cụ thể yêu cầu như sau:
- Buộc ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 10.530.375.699 đồng (Mười tỷ, năm trăm ba mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng). Bao gồm: Nợ gốc là 9.458.333.333 đồng; Nợ lãi quá hạn là 1.072.042.366 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số S864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Địa chỉ: ấp H, xã T, Thị xã Đ (Nay là TP Đ), tỉnh Bình Phước. Hợp đồng thế chấp số 52143.22.111.2279915.BĐ ngày 13/10/2022. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định.
- Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
*Bị đơn ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phúc L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ kiện.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Người tham gia tố tụng bị đơn ông C, bà H1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
- Buộc ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền là 10.530.375.699 đồng (Mười tỷ, năm trăm ba mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng),
- Trong đó số nợ gốc là 9.458.333.333 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/9/2024 là 1.072.042.366 đồng.
- Ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
- Trường hợp, bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo một trong các thỏa thuận trên, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số S864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Địa chỉ: ấp H, xã T, Thị xã Đ (Nay là TP Đ), tỉnh Bình Phước theo hợp đồng thế chấp số 52143.22.111.2279915.BĐ ngày 13/10/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Phúc L.
- Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng TMCP Q mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Phúc L bản chính Giấy chứng nhận quyền sử đất số S864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016.
Chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ và án phí dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (viết tắt: MB) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, đối với bị đơn ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phúc L có nơi cư trú tại thành phố Đ, Bình Phước nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt của đương sự: Tại thời điểm xác lập hợp đồng tín dụng, bị đơn ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phúc L thể hiện nơi đăng ký thường trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Qua xác minh tại Công an phường T thì ông C, bà H1 không đăng ký tạm trú tại phường T, nhưng có sinh sống tại khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng bị đơn ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phúc L không đến Tòa trong các lần được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP Q là ông Nguyễn Văn T1 có đơn xin vắng mặt có lý do chính đáng.
Do đó việc xét xử vắng mặt ông C, bà H1, ông L, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP Q là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2]Về nội dung:
[2.1] Theo tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp thì: Ngày 13/10/2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) đã ký Hợp đồng cho vay với Bên vay là ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1. Hợp đồng tín dụng trên có nội dung cơ bản như sau: Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022: Số tiền cho vay: 10.000.000.000 đồng; Thời hạn cho vay 240 tháng, phương thức cho vay: cho vay từng lần; Mục đích: Thanh toán trực tiếp tiền mua 03 bất động sản: Thửa đất số 308 + 310; Tờ bản đồ số 07; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, Tp Đ, tỉnh Bình Phước.
Xét giao dịch giữa các bên thông qua hợp đồng là sự thật và hợp pháp, việc ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng cho vay (tín dụng) giữa MB với ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1 là hợp đồng tín dụng có kỳ hạn. Ông C, bà H1 dù được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không xuất trình tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thanh toán nợ cho Ngân hàng. Đến kỳ trả nợ ông C, bà H1 không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận của Hợp đồng cho vay (tín dụng) số: 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 nên việc MB khởi kiện yêu cầu ông C và bà H1 phải liên đới trả số tiền nợ gốc còn nợ là 9.458.333.333 đồng trước thời hạn là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Lãi suất: Xét đây hợp đồng tín dụng nên mức lãi suất được giải quyết theo lãi suất thỏa thuận là đúng quy định Luật các tổ chức tín dụng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 giữa MB và ông C, bà H1; khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022 thì lãi suất thỏa thuận cụ thể: Lãi suất cho vay tại ngày giải ngân đến ngày 24/01/2023 là 11.6%/năm. Lãi suất cho vay thời gian, tiếp theo điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, vào (các) ngày 25/01, 25/4, 25/7, 25/10 hàng năm và được xác định bằng lãi suất tham chiếu VND thời hạn khoản vay > 12 tháng đối với Khách hàng cá nhân do MB công bố/thông báo có hiệu lực áp dụng tại ngày điều chỉnh lãi suất cộng (+) biên độ 4.0%/năm.Tiền lãi được tính bằng Dư nợ gốc thực tế nhân với (x) số ngày vay thực tế nhân với (x) lãi suất cho vay (%/năm) chia cho (:) 365; Lãi suất nợ gốc quá hạn: Bằng 150% Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả: 10%/năm.
Do ông C, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi nên yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q về việc tính lãi là có căn cứ chấp nhận cụ thể: Nợ lãi quá hạn là 1.072.042.366 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024). Và ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
Tổng số tiền gốc và lãi ông C, bà H1 phải liên đới trả cho MB tính đến ngày 27/9/2024 là 10.530.375.699 đồng (Mười tỷ, năm trăm ba mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
[3]Về hợp đồng thế chấp số 52143.22.111.2279915.BĐ ngày 13/10/2022 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Q và bên thế chấp là ông Nguyễn Phúc L thể hiện: Ông Nguyễn Phúc L đã thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số 5864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Địa chỉ: ấp H, xã T, Thị xã Đ (Nay là TP Đ), tỉnh Bình Phước. Hợp đồng thế chấp thể hiện ý chí tự nguyện của ông L dùng tài sản là quyền sử dụng đất trên để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 giữa MB với ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1 và đã được công chứng theo số công chứng 34907 Quyển số: 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2022 tại Văn phòng C1 đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Vì vậy, đề nghị của Ngân hàng TMCP Q trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì cần phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ là phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Do các bên vay tiền có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp nên ngay sau khi ông C, bà H1 trả hết nợ thì MB phải trả lại cho ông Nguyễn Phúc L bản chính Giấy chứng nhận quyền sử đất số 5864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
[5]Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài có cơ sở nên được chấp nhận.
[6]Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông C, bà H1 phải liên đới chịu theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với số tiền phải trả 10.530.375.699 đồng là 118.530.376 đồng.
Về chi phí xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ: 4.000.000 đồng, ông C, bà H1 phải chịu. Ngân hàng TMCP Q đã tạm ứng số tiền này, do đó ông C, bà H1 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 4.000.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ quy định tại Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323; Điều 299; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB).
- Buộc ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền là 10.530.375.699 đồng (Mười tỷ, năm trăm ba mươi triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng),
- Trong đó số nợ gốc là 9.458.333.333 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/9/2024 là 1.072.042.366 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay số 42756.22.111.22719915.TD ngày 13/10/2022 và khế ước nhận nợ kèm theo số LD2229807284 ngày 25/10/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
- Trường hợp, bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo một trong các thỏa thuận trên, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số S864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016. Địa chỉ: ấp H, xã T, Thị xã Đ (Nay là TP Đ), tỉnh Bình Phước theo hợp đồng thế chấp số 52143.22.111.2279915.BĐ ngày 13/10/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Phúc L.
- Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 tại Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Q.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Phúc C và bà Nguyễn Ngọc H1 thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng TMCP Q mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Phúc L bản chính Giấy chứng nhận quyền sử đất số S864258; Số vào sổ cấp GCN: 00865 QSDĐ/658/QĐUB (H) do Ủy ban Nhân dân Thị xã Đ (Nay là TP Đ) cấp ngày 28/08/2001, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phúc L ngày 6/7/2016.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
- 2.1 Chi phí thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, ông C, bà H1 phải chịu. Ngân hàng TMCP Q đã tạm ứng số tiền này, do đó ông C và bà H1 phải liên đới trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)
- 2.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Phúc C, bà Nguyễn Ngọc H1 phải liên đới nộp 118.530.376 đồng.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đợi không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí 58.961.002 đồng (Năm mươi tám triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm lẻ hai đồng) đã đóng trước đó theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001142 ngày 27/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoàng Long |
Bản án số 50/2024/DS -ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 50/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
