Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Nguyễn Văn Trương;
    2. Ông Nguyễn Thanh Tùng;
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 19/2024/HSST-QĐ ngày 19/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Vĩnh Thuỵ, sinh ngày 24/5/1978, tại tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 310A Đinh Bộ Lĩnh, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn Nam (đã chết) và bà Đặng Thị Cúc (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Khánh Vân (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2000; tiền sự: Không; Tiền án: 01, cụ thể:

Bản án số 47/2014/HS-ST ngày 14/6/2014, Toà án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/02/2015, chưa đóng án phí.

Nhân thân: Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 27/3/2024, Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” – bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Ngày 12/12/2023 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Mỹ Tho khởi tố bị can vào ngày 26/4/2024.

1

Hiện tại, bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Cây Cầy – Bộ công an. Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Người bị hại:

  1. Anh Lê Anh Vũ, sinh năm: 1993; Địa chỉ: khu phố Long Hưng, phường Long Chánh, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
  2. Chị Lê Ngọc Châu, sinh năm: 1989; Địa chỉ: khu phố Long Hưng, phường Long Chánh, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 23/12/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh loại “Jupiter” biển số 53R8-8719 lưu thông trên Tỉnh lộ 873 theo hướng từ Ủy ban nhân dân phường Long Chánh, thành phố Gò Công ra Quốc lộ 50. Khi đi ngang nhà anh Lê Anh Vũ, tọa lạc: khu phố Long Hưng, phường Long Chánh, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo thấy phía trước nhà có treo bảng “ĐIỂM BÁN LÚA GIỐNG”, thềm nhà có để một số bao lúa trưng bày nên bị cáo ghé vào để mua lúa cho gà ăn. Bị cáo để xe bên ngoài rồi đi bộ vào nhà anh Vũ, bị cáo quan sát thấy nhà chỉ có trẻ em đang chơi phía trước mà không có người lớn trông coi thì nảy sinh ý định tìm tài sản để lấy trộm.

Bị cáo đi vào phòng khách thì thấy trên bàn để ti vi có để 02 điện thoại di động loại “Iphone 7 Plus” màu hồng và loại “Redmi” màu đen của anh Vũ để trước đó, 01 ba lô nữ màu da bò (nâu) bên trong có tài liệu, thẻ chuyên viên Phòng kinh tế của chị Lê Ngọc Châu để gần đó. Bị cáo lén lút lấy trộm 02 điện thoại di động bỏ vào túi quần bên trái, tiếp đến lấy ba lô rồi đi trở ra vị trí xe 53R8-8719. Bị cáo để ba lô trên ba-ga xe rồi chạy ra Quốc lộ 50 hướng về thành phố Mỹ Tho; đi được một đoạn, bị cáo làm rớt ba lô nhưng không nhớ địa điểm. Đến tối cùng ngày bị cáo bị bắt giữ trong một vụ án khác. Sau khi bị cáo bị bắt, bị cáo đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Gò Công 02 điện thoại di động đã lấy trộm trước đó của anh Lê Anh Vũ.

Anh Vũ sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm thì đến Công an phường Long Chánh trình báo sự việc.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án như sau:

  • 01 điện thoại di động hiệu “Iphone 7Plus” màu hồng, đã qua sử dụng, trị giá: 2.170.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động hiệu “Redmi” màu đen, đã qua sử dụng, trị giá: 1.070.000 đồng;

2

  • 01 ba lô nữ, chất liệu da, màu da bò, đã qua sử dụng trị giá: 180.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 3.420.000 (ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSTPGC ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
  3. - Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù của bản án số 31/2024/HS-ST ngày 27/3/2024, Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.

  4. Về vật chứng: Ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Gò Công trao trả lại cho anh Vũ: 01 (một) điện thoại di động “Iphone 7Plus” màu hồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu “Redmi” màu đen. Việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật nên đề nghị ghi nhận.
  5. Đối với xe mô tô hai bánh biển số 53R8-8719 làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội hiện đang tạm giữ trong vụ án khác, nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

  6. Trách nhiệm dân sự: không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gò Công, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ

3

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà, bị hại vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại.

[3]. Tại phiên tòa bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ đã khai nhận: Vào ngày 23/12/2023, tại nhà anh Lê Anh Vũ tọa lạc tại khu phố Long Hưng, phường Long Chánh, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang, bị cáo lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Vũ và chị Lê Ngọc Châu; tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu “Iphone 7Plus” màu hồng, 01 điện thoại di động hiệu “Redmi” màu đen và 01 ba lô nữ màu da bò, với tổng trị giá là 3.420.000 (ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với các biên bản có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Gò Công, lời khai của người bị hại, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị là 3.420.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về động cơ, mục đích của tội phạm: Bị cáo có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì cháy lưới lao động, khi phát hiện tài sản không người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được luật pháp bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 47/2014/HS-ST ngày 14/6/2014, Toà án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/02/2015 nhưng chưa đóng án phí, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8]. Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền

4

án về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong nhưng không đóng án phí nên chưa được xoá án tích; bị cáo sau khi chấp hành bản án xong không nhận thức được lỗi lầm của mình để làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, hiện tại đang chấp hành bản án của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An; Điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Theo qui định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[11]. Về vật chứng:

Ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Gò Công trao trả lại cho anh Vũ: 01 (một) điện thoại di động “Iphone 7Plus” màu hồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu “Redmi” màu đen. Việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.

Đối với xe mô tô hai bánh biển số 53R8-8719 làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội đã được tạm giữ trong vụ án khác, nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[12]. Bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[13]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
  • Các Điều 106; 136; 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  1. Tuyên bố bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

5

- Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 31/2024/HS-ST ngày 27/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An là 01 năm 03 tháng tù, như vậy, bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ phải chấp hành án tổng cộng là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Vĩnh Thuỵ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thành phố Gò Công;
  • - Công an thành phố Gò Công;
  • - Chi cục THADS thành phố Gò Công;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Bị cáo, người bị hại;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thảo

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Vĩnh T, sinh ngày 24/5/1978, tại tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: C Đ, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số 311536300; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Đặng Thị C (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Khánh V (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2000; tiền sự: Không; Tiền án: 01
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger