Hệ thống pháp luật
Bản án

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:50/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Trung Thành
  2. Ông Phạm Đức Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:51/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Kim D - Sinh ngày 16/01/1991 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Con ông: Trần Kim H (đã chết) và bà Lại Thị T1 (đã chết); Vợ Phạm Thị T2; sinh năm 1993, có 02 con lớn sinh năm 2018 con nhỏ sinh năm 2024; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 17/10/2019 bị Toà án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án hình sự số 44/2019/HS-ST; Ngày 17/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 44/2022/HSST, đến ngày 18/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Ngày 05/4/2016, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can về hành vi không tố giác tội phạm do chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; Ngày 28/5/2019 bị UBND xã C, huyện N quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời hạn là 03 tháng;

Ngày 03/12/2021, Trần Kim D bị Công an xã C, huyện N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thu V – Trợ giúp viên pháp lý (Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 – Trung tâm trợ giúp pháp lý, Thanh Hóa)

Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng.

  1. Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 1969 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Chị Phạm Thị T2, sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Bà Lê Thị T4, sinh năm: 1964 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 28/5/2024 Tổ công tác thuộc Công an xã C, huyện N thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thì phát hiện Trần Kim D, trú tại thôn Z, xã C, huyện N điều khiển xe mô tô về nhà, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi áo ngực bên trái của Trần Kim D đang mặc có 01 (một) gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có các cục vụn màu trắng nghi là ma túy, tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan, báo cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Kim D; trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 2147/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Các cục vụn màu trắng của phong bì ký hiệu M niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,102g loại Heroine".

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 28/5/2024 D đi xe mô tô đến nhà Nguyễn Đình Đ, ở thôn N, xã N, huyện N nhờ Đ đi mua ma túy, loại H1 đem về sử dụng. Đ đồng ý nên D đưa cho Đ số tiền 500.000 đồng và bảo D đi xe mô tô 36K5-339.09 chở đến khu vực cầu gần UBND xã V, Đ bảo D đứng chờ, Đ điều khiển xe đi khoảng 15 phút rồi Đ quay lại chở D đi về đến xã C, D vào hiệu thuốc tây mua xilanh, nước cất rồi cả hai đến đoạn đỉnh dốc thuộc xã C dừng xe lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại D cất giữ trong túi áo, xong D điều khiển xe chở Đ đi về, khi D vừa về đến sân nhà mình thì bị Công an xã C, huyện N kiểm tra phát hiện có hành vi cất giấu ma tuý trong người, nên Công an xã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen, BSK 36K5-349.09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H2, Phạm Trung K và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong là ma túy sau giám định.

- Xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô 36K5-339.09, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên đăng ký tên của chị Phạm Thị T2 (sinh năm 1993, trú tại thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, là vợ của Trần Kim D). Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của chị T2, việc bị can sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội chị T2 không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị T2 quản lý, sử dụng; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Trần Kim D không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can Trần Kim D.

Đối với: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H2, Phạm Trung K và các hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T là vật chứng liên quan vụ án, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.

Bản cáo trạng số: 53/CT-VKS - NL ngày 29/8/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Kim D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Trần Kim D từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/5/2024.
  • Về xử lý vật chứng:
  • Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy Phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các các hình con dấu và chữ ký

  • Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, công việc không ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo như sau:

Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng, mức hình phạt của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, để lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình đã gây ra, bị cáo đã có tiền án, và nhân thân xấu, bị cáo phạm tội có tình tiết tái phạm nguy hiểm nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Về các nội dung khác của vụ án người bào chữa cho bị cáo hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội, thống nhất với lời bào chữa không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Khoảng 11 giờ ngày 28/5/2024, Công an xã C, huyện N phát hiện Trần Kim D có hành vi cất giấu trong túi áo ngực bên trái mà D đang mặc 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc có chứa các cục vụn màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,102g, mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 17/11/2022 Trần Kim D bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 44/2022/HSST (bản án này đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”) chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội do cố ý, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có các tiền án đó là: Tại bản án hình sự số: 44/2019/HS-ST ngày 17/10/2019 bị Toà án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tại bản án hình sự số: 44/2022/HSST ngày 17/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích). Ngoài ra bị cáo còn là người có nhân thân xấu: Ngày 05/4/2016, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can về hành vi không tố giác tội phạm do chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; Ngày 28/5/2019 bị UBND xã C, huyện N quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời hạn là 03 tháng; Ngày 03/12/2021, Trần Kim bị Công an xã C, huyện N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi trộm cắp tài sản.

Với các tình tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Theo lời khai của Trần Kim D số ma tuý bị Công an thu giữ là do nhờ Nguyễn Đình Đ, trú tại thôn N, xã N, huyện N mua tại khu vực gần Uỷ ban nhân dân xã V đem về sử dụng, quá trình điều tra, xác minh Nguyễn Đình Đ không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì và đối với người bán ma tuý cho Đ chưa đủ căn cứ để xử lý, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiếp tục điều tra, truy tìm khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng:

Phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các các hình con dấu và chữ ký, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo công việc không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Kim D phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Kim D.

Tuyên bố: Trần Kim D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Kim D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu, tiêu hủy. Phong bì niêm phong mẫu vật do phòng Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các các hình con dấu và chữ ký.

Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số: NK 2024/054 ngày 30/8/2024.

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Kim D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Trung Thành

Phạm Đức Hoàn

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger