Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20.9.2024

V/v : “ Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Thân

Ông Hoàng Quốc Cường.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Cán bộ TAND quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09.8.2024 và Q hoãn phiên tòa số 200/2024/QĐ-HPT ngày 28.8.2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc Đ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số K đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
  • * Bị đơn: Bà Phan Thị Hạnh N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số K đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • * Theo đơn khởi kiện ngày 25.5.2024, đơn khởi kiện bổ sung, các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – ông Huỳnh Ngọc Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Phan Thị Hạnh N xây dựng gia đình vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T1, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ: K đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vả nhau. Mỗi lần xảy ra mâu thuẫn vợ tôi đều bỏ về nhà mẹ đẻ khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Phan Thị Hạnh N.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Huỳnh Phan Ngọc T, sinh ngày 02.12.2011 và Huỳnh Ngọc Thảo N1, sinh ngày 02.3.2014. Hiện nay 02 (hai) con chung đang ở với mẹ là bà Phan Thị Hạnh N. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi xác định không có.

  • * Về phía bị đơn bà Phan Thị Hạnh N: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà Phan Thị Hạnh N vẫn không có ý kiến phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc Đ về việc “Ly hôn” đối với bà Phan Thị Hạnh N. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn – ông Huỳnh Ngọc Đ khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn – bà Phan Thị Hạnh N, có địa chỉ tại số K đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn – bà Phan Thị Hạnh N vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Thị Hạnh N.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Ngọc Đ và bà Phan Thị Hạnh N xây dựng gia đình vào năm 2010, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T1, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống tại địa chỉ số K đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo ông Huỳnh Ngọc Đ xác định do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích hay cãi vả lẫn nhau. Mỗi lần xảy ra mâu thuẫn bà Phan Thị Hạnh N đều bỏ về nhà mẹ đẻ tại Quảng Nam khiến cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Để ổn định cuộc sống, ông Huỳnh Ngọc Đ đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với bà Phan Thị Hạnh N. Còn về phía bà Phan Thị Hạnh N, tuy Tòa án đã làm các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng bà Phan Thị Hạnh N vẫn không có ý kiến phản hồi.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên hiện nay, ông bà đã sống ly thân không có trách nhiệm gì đối với nhau. Theo kết quả xác minh, bà Phan Thị Hạnh N đã bỏ đi khỏi địa phương hơn 01 năm nay. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn để ổn định cuộc sống của ông Huỳnh Ngọc Đ là giải pháp hợp lý, phù hợp với các quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Ông Huỳnh Ngọc Đ xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Huỳnh Phan Ngọc T, sinh ngày 02.12.2011 và Huỳnh Ngọc Thảo N1, sinh ngày 02.3.2014. Ông Huỳnh Ngọc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Huỳnh Ngọc Đ xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, ông Huỳnh Ngọc Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – ông Huỳnh Ngọc Đ đối với bị đơn – bà Phan Thị Hạnh N.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Ngọc Đ được ly hôn với bà Phan Thị Hạnh N.
  2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ ông Huỳnh Ngọc Đ phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông đã nộp theo biên lai thu số 0001252 ngày 28.5.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Án xử sơ thẩm, ông Huỳnh Ngọc Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bà Phan Thị Hạnh N vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Các bên đương sự;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - UBND phường Thanh Khê Đông;
  • - Lưu Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Ly hôn giữa nguyên đơn - ông Huỳnh Ngọc Đ và bị đơn - bà Phan Thị Hạnh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger