|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2024
V/v: Tranh chấp
hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Đậu;
2. Bà Vũ Thị Thái Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dưỡng Vũ Hồng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên Tòa: Ông Đặng Trần Thành – Kiểm sát viên VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 19/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Việt trì xét xử công khai vụ án thụ lý số: 220 /2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc "Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST - HNGĐ ngày 09/9/2024 và T về việc hoãn phiên tòa số 01/2024/TB – TA ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thu H, sinh năm 1981; Chỗ ở hiện nay: phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. ĐKHKTT tại: Tổ B, khu A (nay là khu H), phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt H1, sinh năm 1981; ĐKHKTT tại: Tổ B, khu A (nay là khu H), phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Anh H1 hiện nay đang chấp hành án theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại trại giam T1, Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (Chị H có mặt, anh H1 có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn chị Đoàn Thu H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Việt H1 kết hôn ngày ngày 17/5/2005 tại UBND phường G trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H1 có mối quan hệ với bất chính với người khác, anh chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Năm 2017 anh H1 phạm tội và bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 13/2018/HSST ngày 13/3/2018, hiện đang chấp hành án tại trại giam T1 – Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ (đội 19, phân trại 1 trại giam T1 – Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ). Mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Việt H1 để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị H xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012. Từ khi chị và anh H1 ly thân đến nay, chị đã phải một mình chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con đến khi thành niên và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ, công sức và các vấn đề khác: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H tự nguyện chịu và không yêu cầu anh H1 phải chịu.
Tại bản tự khai ngày 14/8/2024, bị đơn anh Nguyễn Việt H1 trình bày: Anh đang chấp hành án theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phân trại 01 trại giam T1, Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H về quan hệ hôn nhân, thời gian và quá trình chung sống là đúng. Anh và chị H mâu thuẫn không thể hòa giải, hàn gắn được, vì vậy anh đồng ý ly hôn với chị H, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị. Về con chung có 02 con chung là Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012. Ly hôn, anh đồng ý để chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con đến khi thành niên và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Về tài sản chung, công nợ, công sức và các vấn đề khác: Anh cũng không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh đồng ý để chị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh đã nhận được bản sao tài liệu chứng cứ do chị H cung cấp. Vì anh chị thuận tình ly hôn; thuận tình nuôi con, còn các tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp chúng anh không đề nghị Tòa án giải quyết và cũng do anh đang phải chấp hành án tại phân trại 01 trại giam T1, Bộ C; Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì không mở phiên họp tiếp cận không khai chứng cứ và hòa giải cho anh chị. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Tại phiên tòa, Chị H trình bày: Chị có đủ điều kiện để nuôi con vì trước khi anh H1 phạm tội và đi thi hành án tại trại giam T1, Bộ C thì vợ chồng chị cũng đã sống ly thân, chị trước đây bán hàng ăn sáng hiện tại chị bán hàng online, thu nhập bình quân khoảng 10 đến 15 triệu đồng /1 tháng, chị và hai con chị đang ở phường D, thành phố V, chị H khẳng định chị có đủ điều kiện về chỗ ở, về thu nhập để chăm sóc tốt cho cháu L và cháu Q nên chị đề nghị được giao cả 02 con chung cho chị nuôi dưỡng. Anh H1 cũng đồng ý để chị H chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu L và cháu Q đến khi thành niên và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Đại diện VKSND thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Tòa án căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con đến khi thành niên. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Hai bên có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Do chị H, anh H1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Chị Đoàn Thu H tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, đây là sự tự nguyện của chị H cần công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Đoàn Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Việt H1. Anh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ B, khu A (nay là khu H), phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con chung giữa chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1 là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
[1.2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực
hiện việc thu thập chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của cho các đương sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H có mặt còn bị đơn anh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án quyết định mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh H1 là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc vụ án không tiến hành mở phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và không hòa giải được: Do anh H1 đang chấp hành án theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại trại giam T1, Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Anh H1 có biết việc chị H xin ly hôn, nuôi con với anh H1. Anh H1 cũng đồng ý ly hôn với chị H, đồng ý để chị H chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu L và cháu Q đến khi thành niên. Vì anh đang chấp hành án tại trại giam T1, Bộ C; Địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, anh có đơn đề nghị Tòa án không không tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và không mở phiên họp hòa giải vì vợ chồng anh chị không thể hàn gắn được và anh có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Vì vậy, Tòa án thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ và không hòa giải được. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung xét xử vắng mặt anh H1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1 tự nguyện tìm hiểu, đã đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị H xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H1. Tại bản tự khai anh Nguyễn Việt H1 cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đồng ý ly hôn với chị Đoàn Thu H. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh H1 có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không còn tin tưởng lẫn nhau. Hiện nay cả anh H1, chị H đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc anh H1, chị H thuận tình ly hôn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận.
[2.2] Về con chung:
Chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1 thống nhất xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012. Chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1 thống nhất thỏa thuận giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012 cho Đoàn Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Các con chung cũng thể hiện nguyện vọng được ở với chị H. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
HĐXX xét thấy, việc nuôi con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, Anh H2 và chị H có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu L và cháu Q. Chị H khẳng định chị đủ điều kiện để nuôi hai con, hiện nay cả hai cháu đang sống ổn định cùng chị, thu nhập bình quân của chị từ 10 – 15.000.000đ /tháng, chị H cũng có nhà ở ổn định tại phường D, thành phố V. Như vậy có căn cứ xác định chị H đủ điều kiện về chỗ ở và thu nhập để đảm bảo nuôi dưỡng và chăm sóc cho hai cháu nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị H và anh H2 về việc giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012 đến khi thành niên, anh H2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là phù hợp với quy định của luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp:
Chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Các bên đương sự thỏa thuận thuận tình ly hôn nên phải chịu 50% án phí theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, chị H nhận nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 150.000 đồng, đây là sự tự nguyện nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đoàn Thu H và anh Nguyễn Việt H1.
-
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 26/06/2012 cho chị Đoàn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Anh Nguyễn Việt H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Sau khi ly hôn, anh H1 không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đoàn Thu H tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/2023 số 0006152 ngày 18/6/2024 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì. Trả lại cho chị Hằng số tiền là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đoàn Thu H xin ly hôn anh Nguyễn Việt H
