TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/DS-ST Ngày: 13/9/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Ngọc Sương;
2. Bà Nguyễn Việt Hoài;
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 202024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Lương Thu T, sinh năm 1965
- Ông Lương Văn H, sinh năm 1966
- Bà Lương Thu H1, sinh năm 1968
- Ông Lương Minh C, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Ông H ủy quyền cho bà T theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2020; ông C ủy quyền cho bà H1 theo văn bản ủy quyền ngày 04/12/2020).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1951.
Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Địa chỉ liên lạc: số F tỉnh lộ 768, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1953
Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai;
- Ông Nguyễn Đông Đ2, sinh năm 1987
- Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trương Thị Đ1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Bà Lương Thu T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quyền ngày 04/12/2020).
- Bà Hoàng Diễm T2, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền bà T2: Bà Lương Thu H1, sinh năm 1968. địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quyền ngày 04/12/2020).
- Anh Huỳnh Duy T3, sinh năm 1990;
- Chị Trần Thị Minh T4, sinh năm 2000;
- Chị Lê Thị Thanh T5, sinh năm 1991
- Cháu Huỳnh Mỹ D2, sinh năm 2019;
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai
Đại diện theo pháp luật của cháu D2: Anh Huỳnh Duy T3 và chị Lê Thị Thanh T5.
Đại diện theo ủy quyền của T3, T4, T5: Bà Lương Thu T, sinh năm 1965 (văn bản ngày 04/12/2020).
- Anh Lương Tấn S, sinh năm 1996
- Chị Phạm Thị Kim N, sinh năm 2000;
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của anh S, chị N: Bà Lương Thu T, sinh năm 1965 (văn bản ngày 02/6/2023).
- Anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1995;
- Chị Nguyễn Thanh T6, sinh năm 2000 và
- Chị Nguyễn Thị Hoàng U, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai
Đại diện theo ủy quyền của anh H2, chị T6, chị U: Bà Lương Thu H1, sinh năm 1968 (văn bản ngày 04/12/2020).
- Chị Lương Ngọc M, sinh năm 1998
- Anh Lương Tấn P, sinh năm 2007;
Cùng địa chỉ: Số nhà F, tổ I, ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của chị M, anh P: Bà Lương Thu H1, sinh năm 1968 (văn bản ngày 02/6/2020).
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Địa chỉ: E đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Minh Đ3- Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công V – Giám đốc văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2 (văn bản ủy quyền số 5342/STNMT – VP ngày 10/7/2023).
(Bà T, bà H1, ông Đ, bà Đ1 và ông T1 có mặt; bà Đ1, ông Đ3, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện (phản tố) ghi ngày 14/12/2020 của nguyên đơn do bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1 và lời khai tiếp theo của người đại diện thống nhất ý kiến trình bày:
Nguồn gốc con đường đi chung hiện đang nằm trên phần diện tích thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 tại địa chỉ xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai mà ông Đ đang khởi kiện các ông, bà, đã được hình thành từ trước những năm 1965-1966 do các ông, bà sử dụng ổn định từ đó cho đến nay đã trên 50 năm, đây là đất chung (đất làng) của chung mọi người dân đều có thể sử dụng. Việc này các hộ dân ở xung quanh ai cũng biết rất rõ con đường này có từ rất lâu (có kèm theo đơn xác nhận nguồn gốc con đường của các hộ dân).
Ngoài ra, UBND xã T đã cấp bảng số nhà của gia đình các ông, bà, trong đó ghi rõ con đường là hẻm 676, còn số nhà của các ông, bà là 676/2, 676/4, 676/6, 676/8. Chính quyền địa phương đã xác nhận số nhà của các ông, bà là nhà trong hẻm, qua đó công nhận con đường đi chung của hẻm F là con đường công cộng. UBND xã T có xuống con đường này để đào lỗ nhằm cắm cột ghi tên con đường là hẽm 676, tuy nhiên gia đình ông Đ cản trở nên chính quyền địa phương không thể thực hiện được. Đề nghị Tòa án xác minh vấn đề này tại UBND xã T.
Năm 1997, cha các ông, bà là Lương Văn N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K267740 ngày 26/09/1997 của thửa đất số 753, 820 tờ bản đồ số 10 là thửa đất mà gia đình các ông, bà đang sinh sống, trong giấy chứng nhận đó công nhận 300m² là đất thổ cư. Như vậy, phải có đường đi vào thì nhà nước mới có thể cấp đất thổ cư trên phần đất của gia đình các ông, bà. Nếu không có đường đi thì làm sao nhà nước có thể cấp đất thổ cư cho gia đình các ông, bà?
- Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Các ông, bà biết rằng, khi làm thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có bước thực hiện hồ sơ đo vẽ thực tế phần diện tích đất sẽ được cấp, hồ sơ này bao gồm: Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Bản mô tả về ranh giới, mốc giới thửa đất này phải có xác nhận của người sử dụng đất liền kề. Người sử dụng đất liền kề ký hoặc không ký với lý do không đồng ý. Khi đó, người sử dụng đất liền kề có quyền thể hiện việc có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo có liên quan đến ranh giới thửa đất. Trong trường hợp, người sử dụng đất vắng mặt trong suốt thời gian đo đạc, thì được nhận được bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Sau đó, nếu không có khiếu nại, tranh chấp liên quan đến ranh giới, mốc giới thửa đất thì ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả đã lập.
Gia đình các ông, bà gồm 4 hộ gia đình có đất nằm sau khu đất của hộ ông Đ, thời điểm ông Đ thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các ông, bà không hề hay biết dù rằng lúc nào gia đình các ông, bà đều có người ở nhà. Đồng thời, nếu ông Đ không vụ lợi, minh bạch trong việc xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì tại sao, ông Đ không thông báo cho các ông, bà được biết, và các ông, bà không hề tham gia bất cứ buổi đo vẽ nào, cũng như không hề ký hồ sơ giáp ranh hoặc bất kỳ chữ ký nào của 04 (bốn) hộ gia đình các ông, bà vào Bản mô tả về ranh giới, móc giới thửa đất thể hiện diện tích được cấp của hộ ông Đ.
Phần con đường đi chung có diện tích 95m² đã được các hộ dân lân cận và gia đình các ông, bà sử dụng ổn định, lâu dài không có tranh chấp trên 50 năm. Do đó khi lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đ bắt buộc phải biết mà chứa con đường đó thành lối đi chung cho tất cả mọi người.
Như vậy, trình tự thủ tục lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Đ là không minh bạch, có nhiều vấn đề bất cập.
Vì vậy đề nghị Quý Tòa tuyên: Yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích là 95m² tại thửa đất số 122 tờ bản đồ số 31 (3m đầu, 3m đuôi) là đường công cộng cho tất cả mọi người dân sử dụng; Tuyên hủy một phần giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ số CĐ 153826 ngày 29/6/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 xã T, huyện V đối với diện tích được cấp thuộc con đường đi chung là 95m².
Nguyên đơn đồng ý với Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 3413/2024 ngày 01/8/2024 của VPĐK đất đai tỉnh Đồng Nai. Đề nghị Tòa án căn cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tranh chấp nguyên đơn đồng ý tính theo đơn giá của Chứng thư thẩm định giá số: 2336/TĐG-CT ngày 19/8/2020 của Công ty cổ phần T12 làm cơ sở giải quyết vụ án mà không cần thẩm định giá lại.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ do ông Đặng Văn T1 là người đại diện ủy quyền trình bày:
Trước đây, ông Đ được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: R848477, cấp ngày 13/09/2002, đối với thửa đất số: 122, tờ bản đồ số: 31, xã T, với diện tích là 458,5 m². (Nguồn gốc đất: Do ông bà ngoại của ông Đ là ông Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1905 và bà Nguyên Thị P1, sinh năm 1906, khai phá từ trước năm 1975. Sau đó, ông bà chết để lại cho ông Đ trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 1986, ông kê khai đăng ký và sử dụng thửa đất ổn định.
Đến năm 2016, ông Đ làm thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CĐ 153826 cấp ngày 29/6/2016. Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 458,5 m². Bên hông nhà có một miếng đất trống rộng khoảng hơn 100 m², trong đó có một lối đi riêng cho các hộ phía sau có chiều ngang khoảng 3m, chiều dài khoảng 20m, phần đất trồng còn lại ông Đ có trồng một ít cây ăn trái. Năm 1975 sau khi tiếp quản xã B cũ, vì không có giếng nước nên cán bộ dân quân có mở lối đi trên phần đất này để vào nhà ông bà Lương Văn N1 và Nguyễn Thị H3 phía sau nhà ông Đ để lấy nước sinh hoạt (hiện tại ông N1 và bà H3 đã mất). Khi còn sống, ông ngoại vẫn cho gia đình ông Lương Văn N1 đi nhờ trên phần đất này để ra đường tỉnh lộ 768 (do gia đình ông N1 không có lối đi riêng). Sau khi ông bà mất, con của ông N1 gồm: bà Lương Thu T, ông Lương Văn H, bà Lương Thu H1 và ông Lương Minh C (các hộ phía sau) tiếp tục đi nhờ đất của gia đình ông Đ để ra đường 768 thì gia đình ông Đ vẫn cho đi bình thường. Tuy nhiên, từ ngày 10/02/2019 (tức mùng 06 Tết), con ông Đ có về đậu xe bên hông nhà thì ông T3 (con của bà Lương Thu T) ra chửi bới gia đình, đòi đốt nhà tôi ông Đ và thách thức các cơ quan. Sau đó, ông Đ đã làm đơn gửi
UBND xã T, đề nghị hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên, đối với một phần quyền sử dụng đất, thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31, xã T, huyện V.
Ngày 27/6/2019, UBND xã T tổ chức hòa giải nhưng các bên không thống nhất được nội dung sự việc nên đã lập biên bản hòa giải không thành.
Nay bị đơn có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn như sau:
Bị đơn không đồng ý về nội dung phản tố của các nguyên đơn, bởi vì các lý do sau: Thứ nhất, phần diện tích đất có chiều ngang 3m mặt tiền đường ĐT-768 và ngang 6,5m phía giáp ranh đất của gia đình bị đơn, sát ranh với thửa đất số 123, tờ bản đồ 31, tổng diện tích 95m² là phần diện tích đất của gia đình bị đơn (ông Nguyễn Văn Đ), đây không phải là đường đi công cộng. Gia đình ông chỉ cho gia đình của bị đơn đi nhờ từ trước đến nay. Gia đình của bị đơn cũng biết việc diện tích đất tranh chấp là nằm trong tổng diện tích 458,5m² của thửa đất số: 122, tờ bản đồ số: 31, địa chỉ: xã T, huyện V, đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bị đơn. Bị đơn khẳng định lại là gia đình nguyên đơn đi nhờ qua phần diện tích đất của bị đơn (trước đây là ông Lương Văn N1 đi nhờ) nên khi gia đình bị đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích này, gia đình nguyên đơn mới không hề có ý kiến, tranh chấp gì.
Thứ hai, thửa đất số: 122, tờ bản đồ số: 31, xã T có nguồn gốc do ông bà ngoại của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ là ông Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1905 và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1906, khai phá từ trước năm 1975. Sau đó, ông bà của ông Đ chết để lại cho ông Đ trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 1986, ông Đ kê khai đăng ký và sử dụng thửa đất ổn định cho đến nay. Vào ngày 13/09/2020, ông Đ được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: R848477 đối với thửa đất số: 122, tờ bản đồ số: 31, xã T, với diện tích là 458,5m². Đến năm 2016, ông làm thủ tục xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CĐ 153826 cấp ngày 29/6/2016. Diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 458,5m2 (Bốn trăm năm mươi tám phẩy năm mét vuông). Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là đúng đối tượng, đúng diện tích và thửa đất này từ trước tới nay không có ai tranh chấp, khiếu nại gì. Do vậy, việc các nguyên đơn yêu cầu tuyên hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn không có căn cứ. Do vậy, bị đơn không đồng ý với nội dung yêu cầu của nguyên đơn bà Lương Thu T; Ông Lương Văn H; bà Lương Thu H1 và ông Lương Minh C trong vụ án này. Hiện nay phía ông Đ chỉ đồng ý cho nguyên
đơn đi lại con đường bề ngang khoảng 2m diện tích 38,6 m² được giới hạn bởi các điểm (1,2,17,18,19,20,1) theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 3413/2024 ngày 01/8/2024 của VPĐK đất đai tỉnh Đồng Nai. Đề nghị Tòa án căn cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tranh chấp bị đơn đồng ý tính theo đơn giá của Chứng thư thẩm định giá số: 2336/TĐG-CT ngày 19/8/2020 của Công ty cổ phần T12 làm cơ sở giải quyết vụ án mà không cần thẩm định giá lại.
Trường hợp Tòa án xét xử mở đường đi cho nguyên đơn thì bị đơn không có yêu cầu nguyên đơn bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên phần đất tranh chấp mà tự nguyện mở đường đi cho nguyên đơn theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 3413/2024 ngày 01/8/2024 của VPĐK đất đai tỉnh Đồng Nai.
* Tại văn bản ngày của người có quyền và nghĩa vụ liên quan Sở T do Nguyễn Công V - Chức vụ: Giám đốc Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2, là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai có Thông báo số 90/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án vụ án dân sự "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung, yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".
Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại đơn vị, tôi xin trình bày quá trình cấp giấy của ông Nguyễn Văn Đ như sau:
- Quá trình cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thứa đất 754, tờ BĐĐC số 10 (Bản đồ thành lập năm 1996):
Ngày 27/12/1993, ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ tại thửa đất số 754, tờ bản đồ địa chính (gọi tắt là BĐĐC) số 10 (Bản đồ thành lập năm 1996). Ngày 13/9/2002, UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số R 848477 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10, xã T.
Theo bản đồ địa chính thành lập năm 1996 thì thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10 của hộ ông Nguyễn Văn Đ sử dụng có tứ cận tiếp giáp với thửa đất số 755; 753; 757; 760, tờ BĐĐC số 10 và đường tỉnh lộ ĐT 768, không có đường đi vào các thửa đất phía sau.
- Quá trình cấp đổi Giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thửa đất 122, tờ BĐĐC số 31 (Bản đồ thành lập năm 2005):
Ngày 08/06/2016, hộ ông Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31 (Bản đồ thành lập năm 2005) thuộc thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10 (Bản đồ thành lập năm 1996), xã T.
Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Đ, đã được UBND xã T xác nhận ngày 08/6/2016, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2 thẩm tra ngày 17/6/2016, chuyển Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ kiểm tra và trình Sở T ký giấy.
Ngày 29/6/2016, Sở T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CĐ 153826 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31, xã T.
- Ý kiến của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2 đối với vụ kiện:
Căn cứ Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng; việc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 153826 ngày 29/6/2016 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ tại thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31, xã T là theo đúng trình tự thủ tục quy định.
Theo bản đồ địa chính mà Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2 quản lý và sử dụng thì thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31 tiếp giáp với thửa đất số 123; 121; 120; 142; 144; 145 và đường T, không có đường đi vào các thửa đất phía sau.
Trên đây là nội dung trình bày quá trình cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Đ của vụ án dân sự "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Kính chuyển Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật./.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Xét việc bà Lương Thu T, ông Lương Văn H, bà Lương Thu H1, ông Lương Minh C cho rằng con đường đi ngang 03 mét mặt đường ĐT.768 và
ngang 6.5m phía sau giáp đất của bà T, ông H, bà H1, ông C, có diện tích là 97.2m², nằm trên thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 tại xã T, huyện V, theo trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số: 3413/2024 ngày 01/8/2024 của Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh V2 đã có từ trước năm 1965-1966 nhưng đã cấp vào GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn Đ nhưng bà T, ông H, bà H1, ông C không có tài liệu chứng cứ chứng minh mà chỉ đưa ra việc UBND xã T đã cấp số nhà và ghi rõ con đường là Hẻm F, đồng thời nếu không có đường đi thì sao lại được cấp GCNQSD đất cho các ông bà, cả hai vấn đề bà T, ông H, bà H1, ông C đưa ra không chứng minh được là có con đường đi từ trước. Mặt khác theo đơn xác nhận của bà Võ Thị L, ông Tạ Văn L1, ông Nguyễn Hiếu T7, bà Phạm Thị Đ4, ông Hồ Văn P3, ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Đ5, bà Lê Thị L2, Đỗ Thị T8, ông Lê Ngọc V1, ông Trần Văn H4, bà Nguyễn Thị Thu C1, bà Nguyễn Thị T9, ông Lê Hữu L3, ông Lý Văn H5, ông Nguyễn Văn T10, ông Trần Văn T11, bà Phạm Thị N2 cho rằng là thấy con đường đi từ trước năm 1975, còn không biết nguồn gốc làm sao lại hình thành con đường nay (bút lục: 155 đến 173).
Qua biên bản xác minh ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại UBND xã T, huyện V thể hiện “Trên bản đồ địa chính thành lập năm 2004 đang có hiệu lực đến nay không có đường đi trên thửa 122 hoặc giáp thửa 122 nêu trên. Phần diện tích đất đường đi trên hiện trạng đã được cấp GCNQSD đất chung thửa 122 cho ông Nguyễn Văn Đ” (bút lục số: 128), còn tại biên bản trình bày ngày 18/7/2023 của ông Nguyễn Công V - Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-Chi nhánh V2 trình bày “Theo bản đồ địa chính thành lập năm 1996 thì thửa đất số 754, tờ bản đồ địa chính số 10 của hộ ông Nguyễn Văn Đ có tứ cận tiếp giáp với thửa đất số 755, 753, 757, 760, tờ bản đồ địa chính số 10 và đường tỉnh lộ ĐT 768 không có đường đi vào các thửa đất phía sau... việc cấp GCNQSD đất, QSHNỞ và tài sản gắn liền với đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ là theo đúng trình tự thủ tục quy định. Theo bản đồ địa chính mà chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V quản lý và sử dụng thì thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 tiếp giáp với thửa đất số 123, 121, 120, 142, 144, 145 và đường tỉnh lộ ĐT 768 không có đường đi vào các thửa đất phía sau”(bút lục số: 320, 437, 438, 439). Do các thửa đất số 123, 121, 120, 142, 144, 145 của gia đình bà Lương Thu T, ông Lương Văn H, bà Lương Thu H1, ông Lương Minh C không có đường đi ra đường tỉnh lộ ĐT.768 nên ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện mở con đường đi chung trên thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31, có diện tích 38.6m², có chiều ngang 2m 09 mặt tiền đường ĐT-768 và ngang 01m 95 phía sau giáp các thửa đất số: 123, 121, 120, 142, 144, 145 của bà T, ông H, bà
H1, ông C được giới hạn các mốc (1, 2, 17, 18, 19, 20), theo trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số: 3413/2024 ngày 01/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (bút lục số 463) nên ghi nhận sự tự nguyện này.
Từ những phân tích nêu trên:
Đề nghị HĐXX:
- Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 266 BLTTDS năm 2015, Điều 332 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ6 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thu T, ông Lương Văn H, bà Lương Thu H1, ông Lương Minh C về việc mở con đường đi ngang 03m mặt tiền đường ĐT-768 và ngang 6.5m phía sau có diện tích là 97.2m² và hủy một phần GCNQSD đất số CD9153826 ngày 29/6/2016 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Văn Đ.
- Bà Lương Thu T, ông Lương Văn H, bà Lương Thu H1, ông Lương Minh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, về các chi phí tố tụng do yêu cầu không được chấp nhận.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Đ về việc mở con đường đi chung trên thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31, có diện tích 38.6m², được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 17, 18, 19, 20).
- Về kiến nghị: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ngày 04/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số: 113/2020/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ.
- Ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã thụ lý yêu cầu phản tố đối với vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2021/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo đơn phản tố của bị đơn bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1, về việc “công nhận phần đất diện tích là 95m² tại thửa đất số 122 tờ bản đồ số 31 (3m đầu, 3m
đuôi) là đường công cộng; Tuyên hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ số CĐ 153826 ngày 29/6/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 xã T, huyện V đối với diện tích được cấp thuộc con đường đi chung là 95m².”
- Ngày 20/6/2022 nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện. Đối với bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngày 30/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo số: 726/TB-TA về việc Thông báo thay đổi tư cách tố tụng như sau:
Nguyên đơn trong vụ án là bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1; bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ và các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo thông báo thụ lý của Tòa án.
- Ngày 21/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định chuyển vụ án số: 03/2023/QĐST-DS về việc chuyển hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm số: 113/2020/TLST-DS Ngày 04/6/2020 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để giải quyết theo thẩm quyền.
- Ngày 16/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Phiếu chuyển số: 14/PC-TA về việc chuyển hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm số: 113/2020/TLST-DS Ngày 04/6/2020 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đến Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ngày 11/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã lại vụ án và đã thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số: 161/2023/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Ngày 13/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai ra Phiếu chuyển hồ sơ vụ án thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số: 161/2023/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để giải quyết theo thẩm quyền.
- Ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã nhận hồ sơ vụ án trên và đã thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số: 90/2024/TLST-DS về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 34, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự thì thụ thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Về quan hệ pháp luật xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Về tư cách tố tụng như xác định nêu trên.
Xét thấy việc ông Đ rút yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đ1, ông Đ3, Sở T xin vắng mặt do đó căn cứ vào Điều 227, Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu tòa án công nhận phần đất diện tích là 97.2m² tại thửa đất số 122 tờ bản đồ số 31 (3m đầu, 3m đuôi) là đường công cộng; Tuyên hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 153826 ngày 29/6/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 xã T.
- Qua đo đạc, xem xét tại chỗ theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3413/2024 ngày 01/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ. Phần đất tranh chấp được đo vẽ thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 xã T có diện tích là 458,5m², mục đích sử dụng: 283.5m² đất ở tại nông thôn và 175.0m² đất trồng cây hàng năm khác, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 153826 ngày 29/6/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ.
Phần vị trí đo vẽ hiện trạng theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn được giới hạn bởi các điểm: (1,2,3,16,17,18,19,20.1) có diện tích là: (38.6 + 58.6) = 97.2m² là phần yêu cầu mở lối đi chung là đường đi công cộng.
Phần vị trí đo vẽ hiện trạng theo sự chỉ dẫn của bị đơn đồng ý mở đường đi cho nguyên đơn được giới hạn bởi các điểm: (1,2,17,18,19,20.1) có diện tích là: 38.6m².
- Về nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà ngoại của ông Đ là ông Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1905 và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1906, khai phá từ trước năm 1975. Sau đó, ông bà chết để lại cho ông Đ trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngày 27/12/1993, ông Đ có đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ tại thửa đất số 754, tờ bản đồ địa chính (gọi tắt là BĐĐC) số 10 (Bản đồ thành lập năm 1996). Ngày 13/9/2002, UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số R 848477 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10, xã T.
Theo bản đồ địa chính thành lập năm 1996 thì thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10 của hộ ông Nguyễn Văn Đ sử dụng có tứ cận tiếp giáp với thửa đất số 755; 753; 757; 760, tờ BĐĐC số 10 và đường tỉnh lộ ĐT 768, không có đường đi vào các thửa đất phía sau.
Ngày 08/06/2016, hộ ông Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31 (Bản đồ thành lập năm 2005) thuộc thửa đất số 754, tờ BĐĐC số 10 (Bản đồ thành lập năm 1996), xã T.
Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Đ, đã được UBND xã T xác nhận ngày 08/6/2016, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V2 thẩm tra ngày 17/6/2016, chuyển Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ kiểm tra và trình Sở T ký giấy.
Ngày 29/6/2016, Sở T cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CĐ 153826 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, tại thửa đất số 122, tờ BĐĐC số 31, xã T.
- Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ mở đường đi chung diện tích là 97.2m² theo đo vẽ hiện trạng. Đối với bị đơn không đồng ý mà chỉ đồng ý mở đường đi cho gia đình nguyên đơn diện tích là 38.6m² theo đo vẽ hiện trạng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, về nguồn gốc đất là của gia đình ông Đ, đối với nguyên đơn chỉ đi nhờ qua đất của gia đình ông Đ, theo bản đồ địa chính xã T thì không có thể hiện đường đi vào phần đất của nguyên đơn sử dụng đã được xác định tại biên bản xác minh ngày 15/12/2020 do UBND xã T cung cấp và phần giải trình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Việc nguyên đơn yêu cầu mở lối đi và công nhận lối đi chung diện tích là 97.2m² nhưng không được sự đồng ý của bị đơn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Đối với bị đơn chỉ đồng ý mở đường đi cho gia đình nguyên đơn mà không yêu cầu tính trị giá quyền sử dụng đất có diện tích là 38.6m² theo đo vẽ hiện trạng (có chiều ngang khoảng 2m từ đường 768 vào đến thửa đất 142 của nguyên đơn) được giới hạn bởi các điểm: (1,2,17,18,19,20,1) là thuận tiện, hợp tình, hợp lý đúng quy định của pháp luật nên ghi nhận.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CĐ 153826 cấp ngày 29/6/2016 đối với thửa đất số: 122, tờ bản đồ số: 31, xã T được Sở T cấp cho ông Đ là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, về nguồn gốc đất, trình tự cấp giấy CNQSD đất cho ông Đ được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó yêu cầu hủy giấy CNQSD đất của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí: Nguyên đơn mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
+ Về chi phí xem xét tại chỗ, thẩm định giá và đo đạc: Các đương sự đã nộp xong và không có yêu cầu nên không xem xét.
[4] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên công nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 227; Điều 288; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 245, Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 và 204 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/ Tuyên Xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị Đ1 mở đường đi cho gia đình nguyên đơn bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1 diện tích là 38.6m² thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 31 xã T được giới hạn bởi các điểm: (1,2,17,18,19,20,1) theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 3413/2024 ngày 01/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
2/ Về án phí: Nguyên đơn bà Lương Thu T, Lương Văn H, Lương Minh C và Lương Thu H1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Nhưng ông H được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004970 ngày 02/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Ông H đã nộp xong tiền án phí.
Bà T, ông C và bà H1 mỗi người phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Vĩnh Yên |
Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 50/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thu T - Nguyễn Văn Đ - tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận lối đi chung; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
