TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/KDTM-ST Ngày: 12/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;
- Bà Phạm Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 54/2024/TLST-KDTM ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST - KDTM ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa :
Nguyên đơn: Công ty TNHH K; trụ sở: Lầu 4, số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – là nguyên đơn. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1982; chức vụ: Giám đốc – là đại diện theo pháp luật, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P - Doanh nghiệp tư nhân T; trụ sở: Khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Ngô Hoài P1, sinh năm 1982; nơi cư trú: 3 đường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương – là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 07/5/2024), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 01/3/2018, Công ty của tôi có ký hợp đồng thuê mặt bằng với T để thuê phần đất tại: Khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo đó, hai bên thoa thuận với nhau cho thuê trong thời hạn là 02 (năm) năm kể từ ngày 30/4/2018, giá thuê đất hàng tháng năm đầu là 20.000.000 đồng/tháng (hai mươi triệu đồng). Sau đó, tôi có ký thêm hợp đồng để gia hạn thêm thêm thời gian thuê đến ngày 30/4/2023, giá thuê đất hàng tháng năm đầu là 22.000.000 đồng/tháng (hai mươi hai triệu đồng), tăng lên 10% mỗi năm. Số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), hình thức thanh toán bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt vào cuối tháng.
Tuy nhiên, thời hạn hợp đồng đã hết, Công ty K đã thanh toán toàn bộ số tiền thuê cho bên và đã thực hiện thanh lý hợp đồng nêu trên, nhưng bên T không trả lại số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Sau đó, tôi có liên lạc với T để giải quyết tranh chấp của hai bên nhưng T không đồng ý, không hợp tác trả lại tiền cọc cho tôi.
Nhận thấy, việc DNTN Thanh P không trả lại số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) theo như điều khoản trong hợp đồng thuê mặt bằng, đã vi phạm hợp đồng thuê mặt bằng mà hai bên đã ký kết với nhau làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.
Vì lẽ đó, nay tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn: Buộc DNTN Trạm xăng T do ông Nguyễn Thanh P là địa diện hợp pháp phải trả cho số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy uỷ quyền (bản chính); hồ sơ pháp nhân của nguyên đơn, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản chứng thực); hợp đồng thuê mặt bằng, biên bản thanh lý hợp đồng (bản photo) ...
Theo bản trình bày ý kiến ngày 14/5/2024, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Giữa công ty TNHH K và Doanh nghiệp tư nhân Trạm xăng T có ký hợp đồng số 02/HĐTMB ngày 01/4/2020, theo hợp đồng 02 bên có thỏa thuận về tài sản cho thuê, giá thuê, thời hạn thuê. Ngoài ra, 02 bên còn thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng và bàn giao tài sản khi kết thúc hợp đồng. Tuy nhiên, khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng (ngày hết hạn 30/4/2023) thì Công Ty K tự ý chuyển đi và không tiến hành bàn giao lại các tài sản của Doanh nghiệp T, cụ thể các tài sản có trước khi cho Công ty K thuê, bao gồm: 03 trụ bơm xăng và 02 bồn chứa xăng. Đồng thời Công ty K chưa thanh toán tiền thuê tháng 04/2023. Công ty K tự ý đổ cát vào các bồn chứa xăng đã làm hư hỏng toàn bộ 02 bồn chứa xăng.
Trước các yêu cầu khởi kiện của Công ty K, Doanh nghiệp T không đồng ý trả lại tiền cọc theo hợp đồng và yêu cầu Công ty K bồi thường cho Doanh nghiệp T, cụ thể: Tiền thuê tháng 04/2023: 24.000.000 đồng; 03 trụ bơm xăng, trị giá: 150.000.000 đồng (50.000.000 đồng/01 trụ bơm xăng); 02 bồn xăng, trị giá: 22.000.000 đồng (01 bồn 10.000 lít, trị giá: 12.000.000 đồng.
Bị đơn không nộp cho Tòa án đơn yêu cầu phản tố.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại số tiền cọc 150.000.000 đồng theo hợp đồng cho thuê mặt bằng sau khi các bên đã thanh lý hợp đồng. Bị đơn có trụ sở tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do đó Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân thành phố Thuận An tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Quá trình làm việc, bị đơn có yêu cầu nguyên đơn bồi thường tổng số tiền 196.000.000 đồng; quá trình đưa vụ án ra xét xử, bị đơn có nộp đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đề ngày 29/7/2024 để xác định giá trị thiệt hại nguyên đơn gây ra cho bị đơn. Tuy nhiên quá trình tố tụng cho đến trước khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không nộp cho Tòa án đơn yêu cầu phản tố theo quy định tại Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét đối với các yêu cầu trên của bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn, bị đơn thống nhất về việc có ký hợp đồng số 02/HĐTMB ngày 01/4/2020 về việc cho thuê mặt bằng để kinh doanh xăng dầu, thống nhất với các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, thống nhất về việc hai bên đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, bàn giao tài sản. Đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng mà hai bên đã ký kết là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật.
[2.2] Hợp đồng số 02/HĐTMB ngày 01/4/2020 không có thỏa thuận về việc xử lý số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng sau khi chấm dứt hợp đồng, tuy nhiên sau khi hết hạn hợp đồng hai bên có ký kết biên bản thanh lý hợp đồng ngày 04/5/2023, theo nội dung thỏa thuận tại Điều 1 hai bên xác nhận đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và thống nhất thanh lý hợp đồng. Bên cạnh đó tại Điều 2 cũng ghi nhận hai bên không có bất kỳ tranh chấp nào phát sinh liên quan đến hợp đồng, bị đơn cam kết trả lại tiền cọc là 150.000.000 đồng cho nguyên đơn vào ngày 30/6/2023, tuy nhiên đến nay bị đơn vẫn chưa trả lại số tiền 150.000.000 đồng cho nguyên đơn là vi phạm cam kết tại biên bản thanh lý hợp đồng ngày 04/5/2023.
[2.3] Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn tự ý chuyển đi, không tiến hành bàn giao lại các tài sản của bị đơn, đồng thời chưa thanh toán tiền thuê tháng 04/2023, nguyên đơn còn tự ý đổ cát vào các bồn chứa xăng đã làm hư hỏng toàn bộ 02 bồn chứa xăng. Tuy nhiên những nội dung này không được thể hiện tại biên bản thanh lý hợp đồng ngày 04/5/2023, bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình.
[3] Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; các Điều 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Các Điều 328, 472 của Bộ luật Dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH K về việc tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng với bị đơn ông Nguyễn Thanh P - Doanh nghiệp tư nhân Trạm xăng T.
Buộc ông Nguyễn Thanh P - Doanh nghiệp tư nhân T trả lại cho Công ty TNHH K số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thanh P - Doanh nghiệp tư nhân T phải chịu 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty TNHH K số tiền 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001879 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 50/2024/KDTM-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Số bản án: 50/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HĐ
