|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 50/2024/DS-ST Ngày: 12/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Sa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (OCB); Trụ sở: Số A, D L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thành L- Giám đốc P1;
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hữu Q- Chuyên viên chính thu hồi nợ hiện trường- Phòng thu hồi nợ; Địa chỉ: B, Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; ( có mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1993 và bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1995; Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1976; Trú tại: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; ( bà Giàu có M; ông S bà H vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
* Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ngân hàng TMCP P (sau đây viết tắt là ngân hàng O) và người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Nguyễn Hữu Q thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H đã ký kết với Ngân hàng TMCP P Hợp đồng tín dụng số 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/05/2022 và Khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 để vay vốn tại O, chi tiết như sau: Khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022: Số tiền vay: 1.800.000.000 đồng ( Một tỷ tám trăm triệu đồng); Mục đích vay: Mua: bất động sản; Thời hạn vay: 240 tháng;
Lãi suất vay trong hạn: 10,49%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên, từ tháng 25 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/1 lần (sau đây gọi là kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày 02/06/2024 theo công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở + Biên độ lãi suất. Trong đó, lãi suất cơ sở: là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được O ban hành từng thời kỳ, Biên độ lãi suất: Tối thiểu: 3,5%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Theo Hợp đồng thế chấp số 0039/2022/BĐ ngày 31/5/2022 giữa OCB với ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H, số công chứng 00008428, quyển số: 01/2022/TP/CC-CSS/HĐGD ngày 31/5/2022 tại Văn phòng C là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất: 131; Tờ bản đồ số: 26; Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021. Tài sản bảo đảm đã được đã được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/05/2022 và Khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 được ký kết giữa OCB với ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H, thời điểm vi phạm là ngày 10/4/2024. Như vậy, ông S và bà H đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký kết với OCB tạm tính đến ngày 08/4/2024 thì ông S bà H còn nợ OCB số tiền 1.965.202.112 đồng (một tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm lẻ hai nghìn một trăm mười hai đồng); trong đó: Nợ gốc là 1,725,000,000 đồng, nợ lãi 240.202.112 đồng (gồm nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn);
Do đó, Ngân hàng OCB khởi kiện ông S bà H và yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành giải quyết như sau:
- Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải thanh toán cho Ngân hàng O tính đến ngày 08/4/2024 với tổng dư nợ là: 1.965.202.112 đồng (một tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm lẻ hai nghìn một trăm mười hai đồng); trong đó: Nợ gốc là 1,725,000,000 đồng, nợ lãi 240.202.112 đồng( gồm nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn); Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 09/4/2024 cho đến ngày thực tế ông S bà H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng OCB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0041/2022/HĐTD- CN ngày 31/5/2022;
- Trường hợp ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì OCB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông S bà H là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất: 131,tờ bản đồ số: 26, Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021.
Bị đơn ông Nguyễn Tiến S, bà Nguyễn Thị Hồng H và người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị G không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
Tại phiên hòa giải và công khai chứng cứ ngày 05/8/2024, người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Ngọc G đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền vay gốc, thời gian cũng như lãi suất thỏa thuận. Tuy nhiên, do gặp khó khăn nên không có khả năng trả lãi đúng hạn cho Ngân hàng và đưa ra phương án trả nợ trong thời hạn 02 năm nhưng người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng không đồng ý, vì vậy các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng O ông Nguyễn Hữu Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải thanh toán cho Ngân hàng O tính đến ngày 12/9/2024 với dư nợ là 2.081.765.628 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng); trong đó, nợ gốc là 1.725.000.000 đồng; tiền lãi phải thanh toán là: 356. 706.628 đồng. Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thực tế ông S bà H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng OCB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0041/2022/HĐTD- CN ngày 31/5/2022;
- Trường hợp ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì OCB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông S bà H là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất: 131, tờ bản đồ số: 26, địa chỉ: ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông S bà H là bà Trần Thị G giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong buổi hòa giải, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 118, 119, 282, 385, 398, 401 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P: Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải thanh toán cho Ngân hàng OCB số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thực tế ông S bà H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng OCB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0041/2022/HĐTD- CN ngày 31/5/2022;
- Trường hợp ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì OCB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông S bà H là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thuộc thửa đất: 131, tờ bản đồ số: 26, địa chỉ ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021.
- Về nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng đề nghị HĐXX xem xét phù hợp với quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng TMCP P, yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải trả nợ số tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, nên HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, ông S bà H có hộ khẩu thường trú tại tổ H, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Theo Hợp đồng cho vay số 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 giữa nguyên đơn ngân hàng O và bị đơn ông Nguyễn Tiến S bà Nguyễn Thị Hồng H do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Những người tham gia ký kết hợp đồng đều đúng thẩm quyền, ký kết trên tinh thần tự nguyện; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 385, 398, 401 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng do vậy hợp đồng tín dụng này là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Tại buổi hòa giải và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà G thừa nhận việc ông S bà H có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng O và vay số tiền gốc cũng như nợ lãi phát sinh như Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, do kinh tế gặp khó khăn, nên ông S bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Ngân hàng xem xét, cho trả nợ trong thời hạn 02 năm, trả trước 500.000.000 đồng. Phía đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng ông Nguyễn Hữu Q không đồng ý với phương án trả nợ và xin giảm lãi của bà G với lý do theo quy định của Ngân hàng thì thời hạn xin trả nợ của khách hàng là quá lâu không phù hợp với quy định chung của Ngân hàng nên không được phía Ngân hàng đồng ý.
Do đó, việc Ngân hàng O khởi kiện ông S bà H yêu cầu trả nợ cho Ngân hàng về số tiền gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết số 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là có căn cứ.
Về mức lãi suất phát sinh: Tại bảng kê chi tiết lãi suất và tại phiên tòa thì Ngân hàng O đang áp dụng lãi suất là 11,9%/năm (lãi trong hạn) và lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn trên số tiền còn nợ. Đối chiếu với thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 mà hai bên ký kết thì phù hợp nên có căn cứ.
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng O về việc buộc ông S bà H còn phải chịu tiền nợ lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 đã ký kết với ngân hàng O sau thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi ông bà hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngân hàng.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì yêu cầu trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trường hợp ông S bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng, HĐXX xét thấy:
Theo điều khoản mà các bên đã ký kết trong Hợp đồng thế chấp số 0039/2022/BĐ ngày 31/5/2022 về việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất: 131; Tờ bản đồ số: 26; Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021 được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật đất đai và phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự hiện hành nên có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu ông S bà H trong trường hợp không trả được toàn bộ số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng O và ông S bà H là có căn cứ phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng:
Căn cứ Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ;
Do đó, ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 73. 635. 312 đồng (bảy mươi ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm mười hai đồng);
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng( ba triệu đồng), ông S bà H phải chịu.
[5] Quan điểm của đại diện VKS là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147, 157, Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 118, 119 và Điều 280, 282, 292, 299, 301, 303, 317 385, 398, 401 của Bộ luật Dân sự;
Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P ( O).
- Buộc ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải thanh toán cho Ngân hàng O, tổng dư nợ tính đến ngày 12/9/2024 là: 2.081.765.628 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Số tiền gốc là: 1.725.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu đồng), tiền lãi phải thanh toán là: 356.706.628 đồng (ba trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng), Theo hợp đồng tín dụng 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022 giữa ngân hàng và ông S bà H.
- Trường hợp ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì OCB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông S bà H là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất: 131; tờ bản đồ số: 26; tọa lạc tại ấp A, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 265710, số vào sổ cấp GCN: CS 09630 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp số 0039/2022/BĐ ngày 31/5/2022;
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 73. 635. 312 đồng (bảy mươi ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm mười hai đồng);
- Hoàn trả cho Ngân hàng O số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 35.478.000 đồng ( ba mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 004249 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành.
- Về Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng( ba triệu đồng), ông S bà H phải chịu. Do Ngân hàng đã đóng tạm ứng, ông S bà H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông S bà H phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh cho đến ngày thực tế ông S bà H trả hết nợ cho OCB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng 0041/2022/HĐTD-CN ngày 31/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0041/2022/KUNN-CN ngày 02/6/2022.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Dương Thị Thúy |
8
Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 50/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Phương Đồng ( OCB) khởi kiện ông Cũ Tấn S và bà Nguyễn Thị Mỹ H
