|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 11-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Dệt.
- Bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Danh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lữ Thị S, sinh năm 1972 tại xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Trường C (là liệt sĩ), con bà: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1946, mẹ bị cáo hiện sinh sống tại thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con cả trong gia đình; bị cáo có chồng là Trịnh Ngọc D (đã chết), bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1999;
Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án:
- Ngày 11/11/2008, bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 09 tháng tù về tội Môi giới mại dâm. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/01/2010 và đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án dân sự của bản án.
- Ngày 21/4/2011, bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 24 tháng tù về tội Chứa mại dâm, tổng hợp hình phạt chung là 60 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/8/2015 và đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án dân sự của bản án.
- Ngày 29/9/2016, bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2022 nhưng chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án dân sự của bản án.
Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/4/2024 đến ngày 06/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt
- Họ và tên: Lữ Thị T, sinh năm 1965 tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Văn N (đã chết), con bà: Bùi Thị Đ (đã chết). Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo không có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/4/2024 đến ngày 06/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.
- Họ và tên: Lê Văn C1, sinh năm 1970 tại xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn L (đã chết), con bà: Đỗ Thị H, sinh năm 1930. Hiện mẹ bị cáo sinh sống tại thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo có vợ là Tô Thị D1 sinh năm 1973 trú tại thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/01/2011, bị Chủ tịch UBND huyện N ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trung tâm G cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ra khỏi trung tâm ngày 21/6/2012.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/4/2024 đến ngày 06/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào thời điểm cuối năm 2022, Lữ Thị S mua ma túy loại heroin từ một người không quen biết, về chia thành 29 gói nhỏ, bọc giấy bên trong, bên bọc túi nilon, dán kín cất giấu trong nhà để bán cho người nghiện kiếm lời. Sáng ngày 30/4/2024, Trước khi đi khỏi nhà S lấy 07 (bảy) gói ma túy giấu vào kệ bát. Do sơ xuất, S làm rơi 02 (hai) gói xuống khu vực tủ đựng bát. S đưa cho Lữ Thị T (là cô ruột) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim có số 0346.264.560 và dặn khi nào có số điện thoại tên “Mama” gọi đến hỏi mua ma túy thì bán và thu tiền hộ, đồng thời chỉ chỗ cất giấu ma túy ở kệ bát ở khu vực bếp để Toán thực hiện.
Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày Lê Văn C1 địa chỉ thôn K, xã H, huyện N gọi điện thoại từ số 0968.910.xxx đến số 0346.264.560 hỏi mua ma tuý. Khi nhận cuộc gọi, thấy máy hiện là “Mama” nên T đồng ý bán ma tuý và hẹn C1 đến nhà lấy. C1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, mang biển kiểm soát 36B6-961.94 đến điểm hẹn gặp T. C1 đưa cho T 1.200.000đ tiền mặt và nói “Một triệu hai là phải bốn cái”. Toán hiểu và đi vào vị trí cất giấu lấy 04 gói ma túy đưa cho C1. Còn lại 03 gói Toán cất vào trong túi. Cốc nhận ma túy và điều khiển xe mô tô về để sử dụng. Khi đi đến khu vực nghĩa địa thuộc thôn Y, xã H, huyện N thì bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay trái của Lê Văn C1 04 gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy báo chứa chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà (nghi là ma túy); 01 (một) điện thoại di động, bàn phím cứng, nhãn hiệu Nokia, màu đen; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 36B6-961.94. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên trong phong bì ký hiệu “M”.
Đến 13 giờ cùng ngày, Lữ Thị T đã đến Công an xã H đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn C1, giao nộp: 03 (ba) gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy báo có chứa chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà; 01 (một) điện thoại di động N2 màu đen đã qua sử dụng mang số sim 0346.264.560; Số tiền ngân hàng N3 1.200.000đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và niêm phong số ma túy trên trong phong bì ký hiệu “M1”.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lữ Thị T tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra thu giữ:
- 20 (hai mươi) gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy có dòng kẻ chứa chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà (nghi là ma túy) được thu giữ tại khe tường của bếp nấu. Số ma túy này được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M2”.
- 02 (hai) gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy có dòng kẻ chứa chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà (nghi là ma túy) được thu giữ tại tủ đựng bát của bếp nấu. Số ma túy này được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M3”.
Đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không thể trốn tránh, Lữ Thị S đã đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng có gắn sim số 0846.192.408 và 01 (một) mắt camera.
Ngày 03/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy được thu giữ và niêm phong.
Tại bản kết luận giám định số 1818/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,584g (không phẩy năm tám bốn gam) loại Heroine.
- Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,211g (không phẩy hai một một gam) loại Heroine.
- Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,570g (một phẩy năm bảy không gam) loại Heroine.
- Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M3 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,142g (không phẩy một bốn hai gam) loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy: Số ma túy trên do Lữ Thị S mua của một người không quen biết, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
Đối với chị Tô Thị D1 là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, mang biển kiểm soát 36B6-961.94, là vợ của Lê Văn C1. Chị D1 không biết việc C1 lấy xe mô tô đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T1, Lưu Bình N1, Phạm Văn T2 và các hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M, M1, M2, M3; 0,536g (không phẩy năm ba sáu gam) chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M; 0,184g (không phẩy một tám bốn gam) chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M1; 1,313g (một phẩy ba một ba gam) chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2; 0,114g (không phẩy một một bốn gam) chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M3.
- 01 (một) chiếc điện thoại NOKIA, màu đen, loại phím bấm, kèm theo số thuê bao 0968.910.984, đã qua sử dụng của Lê Văn C1.
- 01 (một) chiếc điện thoại NOKIA, màu đen, loại phím bấm, kèm theo số thuê bao 0346.264.560, đã qua sử dụng của Lữ Thị S.
- Số tiền mặt 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-HS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lữ Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Lữ Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; Lê Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Lữ thị S, xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lữ Thị T từ 27 đến 33 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Văn C1, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho cả 03 bị cáo; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động và 1.200.000đ từ việc mua bán ma túy mà có tịch thu tiêu hũy số ma túy còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong. Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và xin được HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
- Hành vi của Lữ Thị S: Cuối năm 2022, Lữ Thị S có hành vi mua, tàng trữ ma túy loại heroin của một người không quen biết với giá 1.500.000₫ về chia thành 29 gói nhỏ giống nhau để bán cho người nghiện kiếm lời, với tổng khối lượng ma túy là 2,507g.
- Hành vi của Lữ Thị T: Sáng ngày 30/4/2024, tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, thực hiện theo ý kiến của Lữ Thị S, Lữ Thị T có hành vi bán 04 gói ma túy loại heroin có khối lượng 0,584g cho Lê Văn C1 ở thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa lấy 1.200.000đ.
- Hành vi của Lê Văn C1: Sáng ngày 30/4/2024, tại thôn Y, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Văn C1 có hành vi tàng trữ 04 gói ma túy loại heroin có khối lượng 0,584g. Số ma túy trên là do Lê Văn C1 mua của Lữ Thị T tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với số tiền 1.200.000.000đ.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại CQĐT, người tham gia tố tụng khác, phù hợp với vật chứng thu giữ đã được giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Đối với bị cáo Lữ Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Tuy nhiên trước khi phạm tội lần này, bị cáo bị đã ba lần bị kết án nhưng chưa được xóa án; vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Đối với bị cáo Lữ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Đối với bị cáo Lê Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Như vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố các bị cáo về tội danh theo điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
Hành vi của bị cáo S và bị cáo T thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo S là người chủ mưu, khởi xướng việc mua bán toàn bộ 29 gói ma túy loại heroin có khối lượng 2,507g để bán cho người nghiện kiếm lời; bị cáo T là người giúp sức và là người thực hành cùng bị cáo S trong hành vi bán 04 gói ma túy có khối lượng 0,584g cho Lê Văn C1; bị cáo C1 phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi tàng trữ 0,584g ma túy loại heroin.
[4] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như sau: Ma túy có đặc tính gây nghiện, gây ảo giác cho người sử dụng, con người khi mắc nghiện là bị lệ thuộc vào ma túy. Ma túy là đối tượng gây ra tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy, Nhà nước quản lý ma túy nghiêm ngặt chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực y tế, không cho phép lưu thông tự do. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ gây hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán ma túy, gây hậu quả xấu cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử nghiêm loại tội phạm này.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có chung tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo S có thêm tình tiết giảm nhẹ là con gái của Liệt sỹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo S và bị cáo T có chung tình tiết giảm nhẹ đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo C1 được hưởng tình tiến giảm nhẹ có mẹ đẻ được tặng Bằng khen trong kháng chiến chống pháp quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
Về nhân thân bị cáo S và bị cáo C1 là người có nhân thân xấu, bị cáo T không có tiền án, tiền sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, HĐXX, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện giáo dục, lao đông, cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với Điều 38 BLHS. Thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo S mua bán ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước; đối với bị cáo T bán ma túy theo ý kiến của bị cáo S và cũng không được hưởng lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đối với bị cáo C1 tàng trữ ma túy để sử dụng và hiện tại không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt cho bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 1.200.000₫ và 02 điện thoại di động là công cụ phạm tội.
[8] Về án phí: Các bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS: Tuyên bố bị cáo Lữ Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Lữ Thị S 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 30/4/2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 251 BLHS: Tuyên bố bị cáo Lữ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Lữ Thị T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 30/4/2024). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Lê Văn C1 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 30/4/2024). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịnh thu nộp ngân sách Nhà nước 1.200.000đ và 02 điện thoại di động (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống).
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tình |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lữ Thị S và đồng bọn - Mua bán trái phép chất ma tuý
