Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

-Bản án số: 50/2024/HS-ST

-Ngày: 28/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài

  • * Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Châu Văn Bình

    2. Ông Nguyễn Hoa Kiều

  • * Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đối với các bị cáo:

1. HUỲNH THOẠI TẤN PHA, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1993, tại tỉnh Tiền Giang. Số CCCD [...] do Cục trưởng Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 10/5/2021. Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Bích L. Bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn. Con ruột: 01 người sinh năm 2014. Tiền sự: 01 lần. Ngày 13/02/2023, Huỳnh Thoại Tấn P bị Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng do có hành vi cố ý gây thương tích, đã đóng phạt ngày 17/7/2023. Tiền án: không. Bị cáo bị bắt ngày 20/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. PHẠM NGỌC L1, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1997, tại tỉnh Kiên Giang. Số CCCD [...] do Cục trưởng Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 24/8/2023. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Giới tính: Nữ. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Phạm Ngọc H và bà Nguyễn Thị Ngọc G. Con ruột: 01 người, sinh năm 2018. Bị cáo chung sống như vợ chồng với bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P, không đăng ký kết hôn. Tiền sự: Không. Tiền án: không. Bị cáo bị bắt ngày 20/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh năm 1964 (có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, Tiền Giang

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn Hợp Tiến, xã Tam Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

  2. Trần Sách H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 có quan hệ tình cảm và chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà trọ “Tám Hên” thuộc ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.

Khoảng 18 giờ ngày 18/3/2024, P rủ L1 đi chơi thì L1 đồng ý. P điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 17B2 – 037.67, nhãn hiệu Honda AirBlade chở L1 chạy qua khu vực Quảng trường Thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo Quốc lộ E xuống huyện G, tỉnh Tiền Giang. Pha vừa điều khiển xe vừa quan sát hai bên đường thì L1 biết là P tìm xe mô tô để trộm thì L1 đồng ý và đi cùng P. Pha điều khiển xe quanh khu vực huyện G nhưng không tìm thấy xe mô tô để trộm nên P quay về huyện C, tỉnh Tiền Giang. Lúc này P kêu L1 điều khiển xe chở P ngồi phía sau để quan sát tìm xe mô tô để trộm. Khi đến cầu C, lúc này khoảng 20 giờ 30 phút, P thấy quán cà phê “Miền Nhiệt Đới” thuộc Ô 4, Khu A, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, phía trước quán có đậu nhiều xe mô tô hai bánh nhưng không ai trông coi nên P kêu L1 dừng xe, P xuống xe, dặn L1 ở tại xe 17B2 – 037.67 cảnh giới và chờ P, P đi trộm xe rồi quay trở ra. Nói xong, P leo qua lan can cầu C, theo dốc cầu đi bộ xuống trước sân của quán cà phê. Pha nhìn thấy xe mô tô hai bánh biển số 63B4 – 111.44, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen của bà Nguyễn Thị N nên đi lại lén lút dùng đoản (khóa tự chế) bẻ khóa, khởi động xe rồi chạy ra chân cầu C chổ L1 đứng đợi. P điều khiển xe biển số 63B4 – 111.44 chạy về hướng Thành phố M. L1 thấy P thì điều khiển xe biển số 17B2 – 037.67 chạy theo, P và L1 dự định đến Quảng trường M để bán xe trộm được nhưng do đã tối nên cả hai chạy về nhà trọ.

Khi đến khu vực ngã tư L thuộc huyện C, tỉnh Tiền Giang, lúc này khoảng 21 giờ 15 phút, P và L1 bị Tổ tuần tra của Phòng C - Công an tỉnh T và Công an xã T, huyện C yêu cầu dừng xe kiểm tra. P điều khiển xe Sirius 63B4 – 111.44 bỏ chạy còn L1 bị lực lượng công an giữ lại, L1 khai nhận vừa thực hiện hành vi trộm cắp xe trên địa bàn huyện C nên Công an lập biên bản thu giữ phương tiện và vật chứng liên quan. Pha về đến nhà trọ không thấy L1 nên biết L1 đã bị bắt. Pha giấu xe mô tô hai bánh biển số 63B4 – 111.44 ở khu đất trống gần nhà trọ rồi bỏ trốn. Đến ngày 20/3/2024 P đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang đầu thú. Sau đó, vật chứng được thu giữ và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ - đen, biển số 63B4 – 111.44, số máy: 5C63-641062, số khung: C630CY641002. Đơn giá: 18.000.000/chiếc. Thành tiền: 01 chiếc x 18.000.000 đồng/chiếc x 30% = 5.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.400.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 500/KL-KTHS(Đ2) ngày 22/4/2024 của Phòng C - Công an tỉnh T kết luận:

  • - Xe số 01 biển số 63B4 – 111.44:

    • + Số khung RLCS5C630-CY641002 trước và sau giám định không đổi.

    • + Số máy 5C63-641062 trước và sau giám định không đổi.

  • - Xe số 02 biển số 17B2 – 037.67:

    • + Số khung RLHJF1808AY081846 trước và sau giám định không đổi.

    • + Số máy JF27E-0083576 trước và sau giám định không đổi.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSCG ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự;

  • Xử phạt bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

  • Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra bị hại đã nhận lại xe mô tô và có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô hai bánh biển số 17B2 – 037.67, nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen xanh đỏ, số máy JF27E-0083576, số khung RLHJF1808AY081846.

  • + Đề nghị trả lại bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Huỳnh Thoại Tấn P;

  • + Đề nghị trả lại bị cáo Phạm Ngọc L1: 01 căn cước công dân số [...], 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L1 và số tiền đồng 2.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng, bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình và trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Sách H1 và Nguyễn Văn Đ vắng mặt không lý do. Nhận thấy, việc vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với các bị cáo.

[3] Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận: Do có ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, tại Ô, Khu A, Thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hai bánh, biển số 63B4 –111.44, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.400.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Vì vậy Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhân dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình cho quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã đã lén lút, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong quản lý tài sản, các bị cáo lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hai bánh, biển số 63B4 –111.44, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu, trị giá 5.400.000 đồng nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đồng thời cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho mọi người.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân:

  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo P có thêm tình tiết “người phạm tội đầu thú” nên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  • + Về nhân thân: Bị cáo P có nhân thân xấu, đang có tiền sự; bị cáo L1 có nhân thân tốt.

Quá trình điều tra, Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 khai còn thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, huyện T và huyện G, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã có văn bản thông báo và chuyển vật chứng liên quan đến Cơ quan điều tra các huyện trên tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền.

Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

+ Đồng phạm: Vụ án này có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, các bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 thống nhất cùng nhau tìm tài sản để trộm cắp, không có bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước, các bị cáo cùng là người thực hành, trong đó bị cáo P giữ vai trò chủ mưu, rủ rê và là người trực tiếp vào lấy trộm xe; bị cáo L1 giữ vai trò là người cảnh giới.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu bồi thường dân sự. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[8] Về vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 17B2 – 037.67, nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen xanh đỏ, số máy JF27E-0083576, số khung RLHJF1808AY081846. Qua xác minh, xe này do anh Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu. Anh Đ đã bán xe này cho người khác vào năm 2013, hiện tại không có yêu cầu gì. Anh Trần Sách H1 cũng khẳng định năm 2013 mua lại xe này của anh Đ và sau đó đã bán cho người khác, nay anh không có yêu cầu gì về xe này. Bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P khai mua xe này của một người tên “Nhân nhỏ” (không rõ họ, địa chỉ) ở khu vực ngã tư L, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang với giá 4.000.000 đồng, khi mua xe không có giấy tờ. Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

  • + Đối với 01 căn cước công dân số [...], 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L1 và số tiền Việt Nam 2.000.000 đồng. Đây là giấy tờ tùy thân và tiền của bị cáo L1, không liên quan hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo L1.

  • + Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Huỳnh Thoại Tấn P là giấy tờ tùy thân của bị cáo P, không liên quan hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo P.

[9] Xét ý kiến Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • + Về tội danh, mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, vai trò, nhân thân thân của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc khi nghị án.

  • + Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • + Về trách nhiệm hình sự: Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự.

  • * Xử phạt bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.

  • * Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L1 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.

2/ Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hai bánh biển số 17B2 – 037.67, nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen xanh đỏ, số máy JF27E– 0083576, số khung RLHJF1808AY081846.

  • + Trả lại bị cáo Phạm Ngọc L1: 01 căn cước công dân số [...], 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L1 và số tiền Việt Nam 2.000.000 đồng (Được niêm phong trong bì thư có chữ ký ghi tên Lê Đức T1, Lý Trọng H2 và dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng C - Công An Tỉnh T).

  • + Trả lại bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Huỳnh Thoại Tấn P;

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Thoại Tấn P và Phạm Ngọc L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Cc. THADS huyện Chợ Gạo;
  • - Công an huyện Chợ Gạo;
  • - Bị cáo, bị hại...;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST HUỳnh Thoại Tấn P và PHạm Ngọc L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger