trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THẠNH

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/DS-ST

Ngày: 28-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Đào.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Đắc Tư;
  2. Bà Trần Thị Diễm Châu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lễ- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1961. Có mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1937. Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Võ Hồng C, sinh năm 1962. Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Võ Thị T, sinh năm 1965. Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Võ Kim P, sinh năm 1968. Vắng mặt lần thứ hai.

Võ Ngọc T1, sinh năm 1970. Vắng mặt lần thứ hai.

Võ Văn T2, sinh năm 1973. Vắng mặt lần thứ hai.

Cùng địa chỉ: Khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Võ Trọng V, sinh năm 1976. Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

Võ Vui E, sinh năm 1978. Vắng mặt lần thứ hai.

Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Võ Dư Đ1, sinh năm 1981. Vắng mặt lần thứ hai.

Võ Thị Ngọc B1, sinh năm 1986. Vắng mặt lần thứ hai.

Võ Chí T3, sinh năm 1993. Vắng mặt lần thứ hai.

Cùng địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

Người làm chứng:

Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1966. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1968. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ông Trương Ngọc K, sinh năm 1973. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bà Huỳnh Thị Kim P1, sinh năm 1973. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn B2 trình bày và yêu cầu giải quyết như sau: Nguồn gốc phần đất tranh chấp do nhà nước cấp diện tích qua đo đạc thực tế là 3789.8m² (ký hiệu thửa 636¹) thuộc một phần diện tích 21.940m² của thửa đất số 636, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3248/GCN/RĐ, do ông Võ Văn H đứng tên, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ. Vào năm 1994 ông Huỳnh Văn B có nhận cố phần đất này của ông H với giá 12 chỉ vàng 24K đến năm 1997 thì hết thời hạn cố nhưng ông H không có tiền để lấy lại đất nên buộc ông B phải mua luôn phần đất này với giá 24 chỉ vàng 24K đã giao đủ vàng và đã nhận đất sử dụng, hai bên có làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay có tiêu đề “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 15/7/1997 giữa ông Huỳnh Văn B và ông Võ Văn H. Sau khi nhận chuyển nhượng ông B canh tác được vài năm thì có liên hệ gặp ông H yêu cầu thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông H chỉ hứa hẹn mà không thực hiện với lý do là đất đang tranh chấp kêu ông đợi giải quyết xong mới làm thủ tục chuyển nhượng cho ông được nhưng sau đó ông H chết thì ông có gặp vợ là bà Hồ Thị Đ và các con ông H là Võ Hồng C, Võ Thị T, Võ Kim P, Võ Ngọc T1, Võ Chí T3, Võ Văn T2, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông nhưng các bị đơn đều yêu cầu đưa thêm tiền mới ký tên nên ông không đồng ý vì phần đất này ông đã mua lại của ông H từ năm 1997 và sử dụng hơn 27 năm nay, các bị đơn đều biết việc ông sử dụng đất nhưng không có ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Sự việc được địa phương hòa giải nhưng không thành nên ông khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc thực tế là 3789.8m² (ký hiệu thửa 636¹) nêu trên cho ông. Diện tích chuyển nhượng theo thỏa thuận của hai bên qua đo đạc thực tế là 3239.5m² nhưng sử dụng thực tế thì có diện tích 3789.8m² tăng trên lệch 550.3m² thì ông đồng ý trả cho bị đơn số tiền chuyển nhượng đối với diện tích tăng này để nhận đất sử dụng nhưng đề nghị xem xét công sức đóng góp san lắp, cải tạo, giữ gìn làm tăng giá trị đất. Đối với bản trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thực hiện thì ông thống nhất không ý kiến gì.

Bị đơn bà Hồ Thị Đ, Võ Hồng C, Võ Thị T, Võ Kim P, Võ Ngọc T1, Võ Chí T3, Võ Văn T2, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1 trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các bị đơn nhiều lần tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng các bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định chung.

Người làm chứng: Ông Huỳnh Văn D, ông Trương Ngọc K, ông Huỳnh Văn C1 và bà Huỳnh Thị Kim P1 cùng có lời trình bày: Ông bà là các hộ tứ cận giáp ranh đất của ông Huỳnh Văn B. Phần đất tranh chấp này các ông bà biết rất rõ là của ông H đã chuyển nhượng lại cho ông B sử dụng từ khoảng năm 1993 cho đến nay, khi giao đất lúc đó còn đất lung, đất trũng có độ sâu hơn 1m ông B phải san lắp, cải tạo mới canh tác được. Từ trước đến nay các ông bà cũng không thấy các bị đơn đứng ra tranh chấp hay khiếu nại gì về việc ông B sử dụng đất, giáp ranh đất đều có trụ đá đầy đủ nên các ông bà cũng không có tranh chấp ranh gì với ông B. Nay do bận công việc nên các ông bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thửa đất được ký hiệu 636¹, diện tích dử dụng qua đo đạc thực tế 3.789.8m² trong đó diện tích các bên chuyển nhượng là 3239.5m² được ký hiệu A, loại đất LUC, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ hiện do ông Huỳnh Văn B đang trực tiếp quản lý sử dụng.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay có tiêu đề “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 15/7/1997 giữa ông Huỳnh Văn B và ông Võ Văn H về việc ông Võ Văn H có chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn B quyền sử dụng đất diện tích 3.789.8m² trong đó có 132.4m² đất bờ kinh (được ký hiệu thửa 636¹) thuộc một phần của thửa đất 636. Công nhận ông Huỳnh Văn B đồng ý chịu nhiệm trả cho ông Võ Văn H (chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Hồ Thị Đ, Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 39.046.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận quyền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Các bị đơn bà Hồ Thị Đ, Võ Hồng C, Võ Thị T, Võ Kim P, Võ Ngọc T1, Võ Chí T3, Võ Văn T2, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Người làm chứng ông Huỳnh Văn C1, ông Huỳnh Văn D, ông Trương Ngọc K, bà Huỳnh Thị Kim P1 tất cả vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là có căn cứ.

[1.3] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Thửa đất 636 nêu trên do ông Võ Văn H (chết) đứng tên có hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ bà Hồ Thị Đ và 10 người con Võ Hồng C, Võ Thị T, Võ Kim P, Võ Ngọc T1, Võ Chí T3, Võ Văn T2, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1 nên xác định là đồng bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có cơ sở.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 636¹. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất: Nguồn gốc đất của ông Võ Văn H được nhà nước cấp diện tích 21.940m², thửa đất số 636, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3248/GCN/RĐ ngày 12/11/1989. Quá trình sử dụng đất thì vào năm 1994 do cần tiền trong sinh hoạt lo gia đình ông H đã cố một phần diện tích qua đo đạc là 3239.5m² thuộc một phần của thửa đất số 636 nêu trên cho ông B với giá 12 chỉ vàng 24K thời hạn 03 năm nhưng đến năm 1997 ông H không có tiền lấy lại đất nên đã yêu cầu ông B đưa thêm 12 chỉ vàng 24K để nhận chuyển nhượng luôn phần đất cố này với giá 24 chỉ vàng 24K. Ông B đã giao đủ vàng và đã nhận đất sử dụng từ năm 1997 cho đến nay hơn 27 năm. Như vậy có thể khẳng định ông H không có sử dụng phần đất này từ năm 1994 (thời điểm cố đất cho ông B) thì các bị đơn là vợ và con của ông H đều biết việc nguyên đơn sử dụng đất nhưng không ai tranh chấp hay khiếu nại.

[2.2] Xét “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 15/7/1997 giữa ông Huỳnh Văn B và ông Võ Văn H. Mặc dù, không có công chứng, chứng thực theo quy định tức chưa hợp lệ về mặt hình thức. Tuy nhiên, tại thời điểm tài sản thửa đất 636 được đưa ra giao dịch là tài sản hợp pháp do cá nhân ông H đứng tên và đã được được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 3248/GCN/RĐ ngày 12/11/1989. Tài sản giao dịch nêu trên không bị cấm chuyển dịch, người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự, việc thỏa thuận và giao kết hợp đồng bình đẳng và tự nguyện. Ông B đã giao đủ 24 chỉ vàng 24K, đã nhận đất chuyển nhượng, quản lý sử dụng liên tục từ năm 1997 đến nay đã hơn 27 năm, các bị đơn là vợ và con ông H đều biết nhưng không ai tranh chấp gì. Xét thấy, việc chuyển nhượng đất nói trên là hoàn toàn tự nguyện giữa các bên, không trái với đạo đức xã hội và phù với quy định tại Điều 690, 705 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 3, 30 của Luật đất đai năm 1993; Điều 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; điểm b tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 15/7/1997 giữa ông Huỳnh Văn B và ông Võ Văn H, công nhận quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất nhận chuyển nhượng 3.789.8m² nói trên cho ông B là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.3] Hơn nữa, các bị đơn trong vụ án đều có đất ruộng đang canh tác gần phần đất đang tranh chấp nên đều biết rất rõ việc ông B đang canh tác phần đất tranh chấp này. Do đó, nếu không có việc chuyển nhượng thì các bị đơn có để cho nguyên đơn canh tác 27 năm nay hay không?. Cũng như động thái yêu cầu nguyên đơn đưa thêm tiền mới đồng ý ký tên chuyển nhượng cũng thể hiện rõ ràng các bị đơn cũng thừa nhận và đồng ý có việc chuyển nhượng nói trên.

[2.4] Đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa ông B với ông H diện tích theo thỏa thuận đo đạc được là 3.239.5m². Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế diện tích là 3.789.8m² tăng 550.3m² nguyên nhân là do thời điểm chuyển nhượng trước đây không có tiến hành đo đạc thực tế mà chỉ tính bằng tầm ngang (01 tầm ngang tương đương 3m ngang). Xét thấy, từ năm 1997 đến nay (hơn 27 năm) ông B vẫn sử dụng đất ổn định lâu dài, đúng vị trí nhận chuyển nhượng, đất giáp ranh với các hộ tứ cận đều có ranh bằng trụ đá đầy đủ không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử quyết định giao quyền sử dụng đất diện tích tăng 550.3m² nói trên cho ông B tiếp tục sử dụng là phù hợp. Thêm nữa, đối với diện tích tăng 550.3m² này là loại đất LUC nên việc giao trả lại bị đơn là không phù hợp và vi phạm Quyết định số 16/2022/QĐ-UBND ngày 25/6/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố C về diện tích tối thiểu được tách thửa đất đối với đất nông nghiệp tại các xã thuộc huyện là 1000m² trở lên.

Do đó, cần buộc ông B phải trả cho các bị đơn thêm giá trị phần đất tăng so với chuyển nhượng 550.3m² x 92.593đ/1m² = 50.954.000đ (làm tròn) là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy thời điểm năm 1997 đất nhận chuyển nhượng là đất lung, đất trũng có độ sâu hơn 1m quá trình sử dụng đất thì nguyên đơn có đóng góp công sức san lắp, cải tạo, giữ gìn mới làm tăng giá trị đất như hiện nay nên cần xem xét cho ông B 01 phần công sức đóng góp tương đương 20% giá trị đất là 11.890.000đ. Sau khi khấu trừ tiền công sức đóng góp thì nguyên đơn còn phải trả tiền chuyển nhượng đất lại cho bị đơn số tiền 39.064.000đ đối với phần diện tích tăng so với chuyển nhượng 550.3m² cụ thể được tính như sau:

50.954.000đ (giá trị đất chuyển nhượng cho diện tích 550.3m²) - 11.890.000₫ (công sức đóng góp của nguyên đơn 20% giá trị đất) = 39.064.000đ (số tiền nguyên đơn phải trả cho bị đơn).

[3] Từ những tình tiết và sự kiện đã phân tích tại các mục [2.1], [2.2], [2.3], [2.4] có thể xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B và ông H là có sự thật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/1997 giữa ông B và ông H, công nhận quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất nhận chuyển nhượng 3.789.8m² nói trên cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và chi phí bản vẽ là 9.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong. Xét lỗi làm phát sinh vụ kiện là do lỗi của các bị đơn nên các bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí này và có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền này được quy định tại các Điều 155; 157; 158 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch nhưng trong đó bị đơn bà Hồ Thị Đ được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi. Nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền trả cho các bị đơn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 39.064.000 đồng nhưng nguyên đơn cũng được xem xét miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 690 và Điều 705 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 3 và Điều 30 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 166 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; điểm b, tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B đối với các bị đơn bà Hồ Thị Đ, Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C.

  1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay có tiêu đề “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 15/7/1997 giữa ông Huỳnh Văn B và ông Võ Văn H về việc ông Võ Văn H có chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn B quyền sử dụng đất diện tích 3.789.8m² trong đó có 132.4m² đất bờ kinh (được ký hiệu thửa 636¹) thuộc một phần của thửa đất 636, loại đất 2L, tờ bản đồ số 10, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 12/11/1989 cho ông Võ Văn H đứng tên, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là ấp P, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.

    Công nhận ông Võ Văn H (chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Hồ Thị Đ, Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C đã giao phần đất diện tích nêu trên cho ông Huỳnh Văn B và đã nhận đủ của ông Huỳnh Văn B giá trị chuyển nhượng là 24 chỉ vàng 24K.

    Ông Huỳnh Văn B được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Huỳnh Văn B.

    (Vị trí, kích thước phần đất công nhận và thi hành được thể hiện tại bản trích đo địa chính số 1342/TTKTTNMT ngày 07/11/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).

  2. Công nhận ông Huỳnh Văn B đồng ý chịu trách nhiệm trả cho ông Võ Văn H (chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm: Hồ Thị Đ, Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 39.046.000 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn mươi sáu ngàn đồng).

    Kể từ khi các bị đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu nguyên đơn chậm trả tiền thì còn phải trả lãi suất phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả được xác định theo sự thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về chi phí đo đạc thẩm định và định giá tài sản: Buộc bị đơn Hồ Thị Đ, Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C phải chịu 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) để hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Huỳnh Văn B.

  4. Về án phí: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn B được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật.

    Bị đơn bà Hồ Thị Đ được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật. Các bị đơn còn lại Võ Đức T4, Võ Ngọc T1, Võ Kim P, Võ Chí T3, Võ Trọng V, Võ Vui E, Võ Dư Đ1, Võ Thị Ngọc B1, Võ Thị T, Võ Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Thị Ánh Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 50/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger