Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUẬN C

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 14/6/2024

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Thanh Trí.

2. Bà Lê Thị Tuyết Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

- Nguyễn Hoài T, sinh năm 1974, tại Cần Thơ.
Thường trú: Số G tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà Võ Thị S (chết); Anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1962, nhỏ nhất sinh năm 1968; Vợ: Trần Kim Đ, sinh năm 1976; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giữ ngày 29/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận C. Có mặt tại phiên tòa.

- Phạm Hoàng A, sinh năm 1985, tại Cần Thơ.
Thường trú: Khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1948 (sống) và bà Sa Li A1, sinh năm 1959 (sống); Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1981; Vợ: Võ Thị Thùy D, sinh năm 1982; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giữ ngày 29/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận C. Có mặt tại phiên tòa.

- Nguyễn Thành N, sinh năm 2000, tại Cần Thơ.
Thường trú: Số G khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Số G khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1971 (sống) và bà Trần Thị L, sinh năm 1976 (sống); Anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 2002; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam ngày 17/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận C. Có mặt tại phiên tòa.

- Nguyễn Thanh N2, sinh năm 2002, tại Cần Thơ.
Thường trú: Khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D1, sinh năm 1975 (sống) và bà Dương Kim P, sinh năm 1976 (sống); Anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 1998; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam ngày 17/5/2024 Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận C. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ông Trần Minh T2, sinh năm 1980 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số E khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1972 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường B, KDC H, khu vực 8, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Oai H1, sinh năm 1979 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số F tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1982 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Lê Văn D2, sinh năm 1973 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số C khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Minh L1, sinh năm 1981 (Có mặt).
Địa chỉ: D đường số C, KDC H, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Chí T3, sinh năm 1998 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số H khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1965 (Có mặt).
Địa chỉ: Số C khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Hoàng S1, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số F tổ A, khu V, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Ông Lê Thanh T4, sinh năm 1973 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số A khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1975 (.......................)

Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

- Bà Võ Thị Thùy D, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: Số A khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

- Bà Trần Kim Đ, sinh năm 1976 (Có mặt).

- Chị Nguyễn Hoài P1, sinh năm 1997 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Số G Tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoài TPhạm Hoàng A và có mối quan hệ quen biết từ trước, biết Hoàng A có giấy phép lái xe ôtô nên T khởi xướng việc thuê xe ôtô tải tự lái của dịch vụ Hoàng S1 (địa chỉ khu dân cư Đ, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ) để Hoàng A điều khiển lưu thông trên các tuyến lộ giao thông trong khu dân cư nhằm lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác trong việc bảo quản tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là những con bò được thả chăn nuôi ở các bãi đất trống, Hoàng A đồng ý. Quá trình điều tra chứng minh các bị can T, Hoài A2 thực hiện tổng cộng 06 (sáu) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ, trong đó các bị can Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thành N đã cùng tham gia thực hiện mỗi người 01 (một) vụ. Ngoài ra, THoài A2 còn thực hiện 01 (một) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, tỉnh Hậu Giang, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khuya ngày 09/12/2022, T rủ Nguyễn Thanh N2 chở đi Cần Thơ trộm cắp tài sản, N2 đồng ý rồi điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamha Sirius biển kiểm soát 65E1-380.48 chạy đến nhà chở T đi. Khi đến cầu H thuộc quận N, thành phố Cần Thơ, N2 dừng xe cho T bước xuống rồi di chuyển lên xe ôtô tải do Hoàng A điều khiển, sau đó cùng nhau đi đến khu dân cư H, thuộc khu V, phường H, quận C để chờ khi thuận lợi sẽ lén lút trộm cắp bò. Sau khi đậu xe sát mé đường cạnh bãi đất trống, T điện thoại rồi hướng dẫn đường cho N2 đi đến nơi xe ôtô tải đã đậu. Khi N2 đến, T kêu N2 đi tìm chỗ và dặn “có người đến thì gọi”, N2 hiểu ý nên đi đến góc ngã tư giao nhau đường B và B23 để làm nhiệm vụ cảnh giới cho THoàng A trộm cắp bò. Lúc này, T đi đến góc đường giao giữa đường B và đường A phát hiện 02 (hai) con bò gồm: 01 (một) con bò cái trọng lượng 300kg, 01 (một) con bò cái trọng lượng 200kg của anh Nguyễn Minh L1 là chủ sở hữu đang cột vào 02 (hai) trụ bê tông nên T lần lượt mở dây rồi dắt bò đi đến vị trí xe ôtô tải đã đậu sẵn, Hoàng A mở cửa thùng xe và phụ tiếp đưa bò lên xe. Sau đó, Hoàng AT đem 02 (hai) con bò đi đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang bán cho người đàn ông (không rõ nhân thân) được số tiền 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng), chia cho N2 số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), còn lại THoàng A chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 2: Vào khuya 20, rạng sáng ngày 21/5/2023, Hoàng A thuê xe ôtô tải tự lái chở T đi đến bãi cỏ trống cạnh Công ty Phát triển nhà thành phố C (khu V, phường H, quận C), nơi anh Nguyễn Minh L1 thả đàn bò. Lúc này, T đi xuống xe ôtô tải rồi đi bộ đến lén lút dùng tay mở dây và dắt 01 (một) con bò trọng lượng 250 kg, sau đó Hoàng A mở thùng xe và cùng T dắt bò lên xe rồi đem bò đến thành phố C, tỉnh An Giang bán được số tiền 12.500.000đ (Mười hia triệu năm trăm nghìn đồng) chia đôi, tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 3: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 15/5/2023, Hoàng A điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 69C-029.86 cùng T đến bãi đất trống bên hông Công ty P (thuộc địa bàn phường H, quận C, thành phố Cần Thơ) để trộm bò. Lúc này, Hoàng A dừng xe tải đậu cách vị trí con bò bắt trộm khoảng 200m để T xuống xe đi bộ đến vị trí bò đang buộc dây rồi sử dụng dao thái lan mang theo cắt dây buộc, bắt trộm 01 (một) con bò cái lông màu vàng, trọng lượng 250kg trong đàn bò của anh Nguyễn Văn Ú. Sau đó, dẫn con bò lấy trộm được đến vị trí chiếc xe ôtô tải đang đậu còn Hoàng A điều khiển xe ôtô tải lùi phần đuôi xe vào vị trí có mô đất cao bên đường có chiều cao gần bằng với phần đuôi xe làm điểm tựa để đưa bò lên thùng xe tải. Tiếp đó, T dùng tay nắm dây buộc bò đứng bên trong thùng xe tải để kéo đầu bò, Hoàng A đứng phía sau đuôi bò dùng tay để đẩy phần thân sau của con bò cho vào bên trong thùng xe ô tô tải. Sau khi trộm cắp được con bò nêu trên, Hoàng A điều khiển xe ôtô tải cùng T đi đến thành phố C, tỉnh An Giang để bán với số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) rồi chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 4: Vào khoảng 22h ngày 30/5/2023, T điện thoại rủ Nguyễn Thành N đi trộm cắp bò, N đồng ý. Đến khoảng 23h cùng ngày, Hoàng A điều khiển xe ôtô tải chở T đi đến nhà rước N sau đó di chuyển đến gần Trạm cảnh sát giao thông H2 (thuộc khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ). Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 31/5/2023, NT đi bộ đến đường dân sinh phía sau Trạm giao thông đi vào bãi đất trống, còn Hoàng A điều khiển xe ôtô tải vòng ra phía sau chờ sẵn. Lúc này, TN phát hiện đàn bò của anh Nguyễn Oai H1 đang cột vào cây bình bát ở giữa bãi đất trống, T dùng tay mở dây cột bò và đưa cho N 01 (một) sợi dây cột bò để dắt 01 (một) con bò cái màu đỏ nhạt, trọng lượng 200 kg, T dắt 01 (một) con bò đực màu trắng, trọng lượng 200 kg. Sau dó, cả hai dắt bò đi ngược vào phía trong đi qua mương nước rồi đi lên đường nhựa trong khu dân cư, còn Hoàng A đã di chuyển xe vòng qua khu dân cư và đậu chờ sẵn. Tiếp đó, Hoàng AT dắt bò lên thùng xe, N đứng phụ tiếp rồi cả ba cùng di chuyển ra về. Khi Hoàng A điều khiển xe đến khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ thì N xuống xe và đi bộ vào nhà, còn Hoàng AT cùng nhau di chuyển đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang bán được số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), chia cho N số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), còn lại Hoàng AT chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 5: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 21/6/2023, Hoàng AT thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 65C-125.17 đi đến bãi đất trống gần trạm cân trên đường xuống cảng C (thuộc khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ) để trộm cắp 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 200 kg trong đàn bò do anh Lê Chí T3 đang quản lý, trông giữ cho ông Lê Văn D2 là chủ sở hữu. Sau khi trộm được, Hoàng AT đem bò đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang để bán nhưng không bán được nên T đem bò về nhà tự xẻ thịt và đem ra chợ gần nhà bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 6: Vào khoảng 01 giờ ngày 23/6/2023, Hoàng AT sử dụng xe ôtô tải biển kiểm soát 65C-125.17 đi đến bãi đất trống cạnh nhà máy N4 (ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang) rồi bắt trộm 01 (một) con bò có lông màu vàng sậm, trọng lượng 200kg trong đàn bò của anh Trần Văn Đ1. Khi về đến thành phố Cần Thơ, T xuống xe về nhà ngủ còn Hoàng A tiếp tục điều khiển xe tải chở bò đi bán cho một người đàn ông lạ mặt tại một khu đất trống ở Ngã ba đường về T, tỉnh An Giang với giá 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) rồi chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 7: Vào tối ngày 27/7/2023, Hoàng AT sử dụng xe ôtô biển kiểm soát 65C-125.17 đi đến cổng khu dân cư 586 đối diện cổng khu dân cư P thuộc phường P, quận C, thành phố Cần Thơ để ăn tối và nằm ngủ chờ đến khuya thực hiện hành vi trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28/7/2023, Hoàng A điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 65C-125.17 cùng với T di chuyển vào khu dân cư P, sau đó Hoàng A dừng xe ô tô tải lại đậu cách vị trí bắt trộm con bò khoảng 200m. Lúc này, T xuống xe đi đến dùng dao thái lan mang theo cắt dây buộc rồi trộm cắp 01 (một) con bò cái màu trắng, trọng lượng 320 kg trong đàn bò của anh Trần Minh T2 là chủ sở hữu. Sau đó, THoàng A dắt bò lên thùng xe rồi chạy xe về đậu tại đường N thuộc phường T, quận B, thành phố Cần Thơ để ngủ để chờ trời sáng mang đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an phường T, quận B, tuần tra, phát hiện cùng tang vật là xe ôtô tải biển kiểm soát 65C-125.17 và con bò vừa trộm cắp được trên địa bàn quận C nên bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ tiếp nhận giải quyết theo quy định.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con bò cái, lông màu trắng, trọng lượng 320 kg; 01 (một) xe ô tô tải loại xe thùng có mui, hiệu Kia, tải trọng 3995kg, màu xanh biển kiểm soát 65C-125.17; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô mang tên Trần Nguyên S2; 01 (một) con dao thái lan lưỡi dao bằng kim loại, cán bằng dao bằng gỗ có chữ KIWI BRAND, dài khoảng 25cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, gắn sim số 0706.765.157; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu đen, gắn sim số: 0899.450.611; 01 (một) con dao thái lan nhãn hiệu Kiwi, chiều dài 31,5 cm, phần lưỡi dài 20cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) con dao loại dao chặt chiều dài 41cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) búa không nhãn hiệu, cán bằng gỗ có chiều dài 42cm đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số: 72/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 250 kg có giá trị 18.750.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 71/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu đỏ nhạt, trọng lượng 200 kg có giá trị 14.400.000đ (Mười bốn triện bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) con bò đực màu trắng, trọng lượng 200 kg có giá trị 14.400.000₫ (Mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Như vậy giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 28.800.000₫ (Hai mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 73/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 200 kg có giá trị 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận: giá trị 01 (một) con bò bị mất trộm vào ngày 23/6/2023 là 21.250.000₫ (Hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 74/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu trắng, trọng lượng 320 kg (đã thu hồi được, đang bảo quản tại Công an quận C) có giá trị 24.000.000₫ (Hai mươi bốn triệu đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 19/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (một) con bò cái lông màu vàng, bụng màu trắng, giống bò Sin, trọng lượng 300 kg (không thu hồi được) có giá trị 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng); 01 (một) con bò cái lông màu trắng, giống bò Pháp, trọng lượng 200 kg (không thu hồi được) có giá trị 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Như vậy giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).

Kết luận định giá tài sản số: 20/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái, lông màu đỏ, trọng lượng 250 kg (không thu hồi được) có giá trị 18.750.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản định giá được là 161.550.000đ (Một trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại cáo trạng số: 29/CT – VKS - CR ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng đã truy tố Nguyễn Hoài TPhạm Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Thành NNguyễn Thanh N2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 173, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 173, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

- Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

- Áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 173, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N2 từ từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

- Về tang vật:

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao thái lan lưỡi dao bằng kim loại, cán bằng dao bằng gỗ có chữ KIWI BRAND, dài khoảng 25cm; 01 (một) con dao thái lan nhãn hiệu Kiwi, chiều dài 31,5cm, phần lưỡi dài 20cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) con dao loại dao chặt chiều dài 41cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng và 01 (một) búa không nhãn hiệu, cán bằng gỗ có chiều dài 42cm đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, gắn sim số 0706.765.157 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu đen, gắn sim số: 0899.450.611.

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Nguyễn Hoàng S1 gồm 01 (một) xe ô tô tải loại xe thùng có mui, hiệu Kia, tải trọng 3995kg, màu xanh biển kiểm soát 65C-125.17 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô mang tên Trần Nguyên S2.

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Trần Minh T2 01 (một) con bò cái, lông màu trắng, trọng lượng 320 kg.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do quan biết trước với nhau Nguyễn Hoài TPhạm Hoàng A không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân T biết Hoàng A có giấy phép lái xe ôtô nên T đã rủ Hoàng A thuê xe ôtô tải tự lái để tìm những địa điểm mà các chủ sở hữu tài sản mất cảnh giác, không người trông coi để trộm cắp tài sản, tài sản bị lấy trộm là các con bò được thả nuôi ở những nơi đất trống. Sau đó, cả hai thống nhất, trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 7 năm 2023, THoàng A đã thực hiện tổng cộng 07 vụ trộm cắp tài sản sản trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ và huyện C, tỉnh Hậu Giang (cụ thể thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ và 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, tỉnh Hậu Giang, trong đó Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thành N tham gia mỗi người 01 vụ, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khuya ngày 09/12/2022, Hoàng AT rủ nhau đi trộm tài sản, cả hai đồng ý, sau đó Hoàng A thuê xe ô tô tải (không nhớ biển số) của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999”, lúc này T rủ Nguyễn Thanh N2 chở đi Cần Thơ trộm cắp tài sản, N2 đồng ý rồi điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamha Sirius biển kiểm soát 65E1-380.48 (do ông Nguyễn Văn D1 đứng tên quyền sở hữu) chạy đến nhà chở T đi. Khi đến cầu H thuộc quận N, thành phố Cần Thơ, N2 dừng xe cho T bước xuống rồi di chuyển lên xe ôtô tải do Hoàng A điều khiển, sau đó cùng nhau đi đến khu dân cư H, thuộc khu V, phường H, quận C để chờ khi thuận lợi sẽ lén lút trộm cắp bò. Sau đó, T kêu N2 đi tìm chỗ và dặn “có người đến thì gọi”, N2 hiểu ý nên đi đến góc ngã tư giao nhau đường B và B23 để làm nhiệm vụ cảnh giới cho THoàng A trộm cắp bò. Lúc này, T đi đến góc đường giao giữa đường B và đường A phát hiện 02 (hai) con bò gồm: 01 (một) con bò cái trọng lượng 300kg, 01 (một) con bò cái trọng lượng 200kg của anh Nguyễn Minh L1 là chủ sở hữu đang cột vào 02 (hai) trụ bê tông nên T lần lượt mở dây rồi dắt bò đi đến vị trí xe ôtô tải đã đậu sẵn, Hoàng A mở cửa thùng xe và phụ tiếp đưa bò lên xe, trộm được tài sản cả ba chạy về, Hoàng AT đem 02 (hai) con bò đi đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang bán cho người đàn ông (không rõ nhân thân) được số tiền 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng), còn N2 về nhà của mình. Số tiền bán bò được này chia cho N2 số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), còn lại THoàng A chia nhau tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 19/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (một) con bò cái lông màu vàng, bụng màu trắng, giống bò Sin, trọng lượng 300 kg (không thu hồi được) có giá trị 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng); 01 (một) con bò cái lông màu trắng, giống bò Pháp, trọng lượng 200 kg (không thu hồi được) có giá trị 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Như vậy giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).

Vụ thứ 2: Vào khuya 20 Hoàng AT tiếp tục thuê xe ô tô tải của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999” (không nhớ biển số) để đi trộm tài sản, đến thời gian rạng sáng ngày 21/5/2023, đi đến bãi cỏ trống cạnh Công ty Phát triển nhà thành phố C (khu V, phường H, quận C), nơi anh Nguyễn Minh L1 thả đàn bò. Lúc này, T đi xuống xe ôtô tải rồi đi bộ đến lén lút dùng tay mở dây và dắt 01 (một) con bò trọng lượng 250 kg, sau đó Hoàng A mở thùng xe và cùng T dắt bò lên xe rồi đem bò đến thành phố C, tỉnh An Giang bán được số tiền 12.500.000₫ (Mười hia triệu năm trăm nghìn đồng) chia đôi, tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 20/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái, lông màu đỏ, trọng lượng 250 kg (không thu hồi được) có giá trị 18.750.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ 3: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 15/5/2023, thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 69C-029.86 của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999”, Hoàng A điều khiển xe cùng T đến bãi đất trống bên hông Công ty P (thuộc địa bàn phường H, quận C, thành phố Cần Thơ) tìm bò để trộm. Lúc này, Hoàng A dừng xe tải đậu cách vị trí con bò bắt trộm khoảng 200m, để T xuống xe đi bộ đến vị trí bò đang buộc dây rồi sử dụng dao thái lan chuẩn bị trước mang theo cắt dây buộc, bắt trộm 01 (một) con bò cái lông màu vàng, trọng lượng 250kg trong đàn bò của anh Nguyễn Văn Ú. Sau đó, dẫn con bò lấy trộm được đến vị trí chiếc xe ôtô tải đang đậu, T dùng tay nắm dây buộc bò đứng bên trong thùng xe tải để kéo đầu bò, Hoàng A đứng phía sau đuôi bò dùng tay để đẩy phần thân sau của con bò cho vào bên trong thùng xe ô tô tải. Sau khi trộm cắp được con bò nêu trên, Hoàng A điều khiển xe ôtô tải cùng T đi đến thành phố C, tỉnh An Giang để bán với số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) rồi chia nhau tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 72/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 250 kg có giá trị 18.750.000đ (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ 4: Vào khoảng 22h ngày 30/5/2023, T điện thoại rủ Nguyễn Thành N đi trộm cắp bò, N đồng ý. Đến khoảng 23h cùng ngày, Hoàng A thuê xe ô tô tải của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999” (không nhớ biển số), điều khiển xe ôtô tải chở T đi đến nhà rước N sau đó di chuyển đến gần Trạm cảnh sát giao thông H2 (thuộc khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ). Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 31/5/2023, NT đi bộ đến đường dân sinh phía sau Trạm giao thông đi vào bãi đất trống, còn Hoàng A điều khiển xe ôtô tải vòng ra phía sau chờ sẵn. Lúc này, TN phát hiện đàn bò của anh Nguyễn Oai H1 đang cột vào cây bình bát ở giữa bãi đất trống, T dùng tay mở dây cột bò và đưa cho N 01 (một) sợi dây cột bò để dắt 01 (một) con bò cái màu đỏ nhạt, trọng lượng 200 kg, T dắt 01 (một) con bò đực màu trắng, trọng lượng 200 kg. Sau dó, cả hai dắt bò đi ngược vào phía trong đi qua mương nước rồi đi lên đường nhựa trong khu dân cư, Hoàng AT dắt bò lên thùng xe, N đứng phụ tiếp rồi cả ba cùng di chuyển ra về. Sau đó, N đi về nhà, còn Hoàng AT cùng nhau di chuyển đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang bán 02 (hai) con bò lấy trộm được số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), chia cho N số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), còn lại Hoàng AT chia nhau tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 71/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu đỏ nhạt, trọng lượng 200 kg có giá trị 14.400.000₫ (Mười bốn triện bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) con bò đực màu trắng, trọng lượng 200 kg có giá trị 14.400.000₫ (Mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Như vậy giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 28.800.000₫ (Hai mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).

Vụ thứ 5: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 21/6/2023, Hoàng AT thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 65C-125.17 của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999”, rồi cả hai đi đến bãi đất trống gần trạm cân trên đường xuống cảng C (thuộc khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ) để trộm cắp 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 200 kg trong đàn bò do anh Lê Chí T3 đang quản lý, trông giữ cho ông Lê Văn D2 là chủ sở hữu. Sau khi trộm được, Hoàng AT đem bò đến địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang để bán nhưng không bán được nên T đem bò về nhà tự xẻ thịt và đem ra chợ gần nhà bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 73/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu vàng, trọng lượng 200 kg có giá trị 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).

Vụ thứ 6: Vào khoảng 01 giờ ngày 23/6/2023, Hoàng AT thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 65C-125.17 của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999, rồi cả hai đi đến bãi đất trống cạnh nhà máy N4 (ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang) rồi bắt trộm 01 (một) con bò có lông màu vàng sậm, trọng lượng 200kg trong đàn bò của anh Trần Văn Đ1. Sau đó, Hoàng A chở bò đi bán cho một người đàn ông lạ mặt tại một khu đất trống ở Ngã ba đường về T, tỉnh An Giang với giá 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) rồi cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận: giá trị 01 (một) con bò bị mất trộm vào ngày 23/6/2023 là 21.250.000đ (Hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ 7: Vào tối ngày 27/7/2023, Hoàng AT thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 65C-125.17 của dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999”, đi đến cổng khu dân cư 586 đối diện cổng khu dân cư P thuộc phường P, quận C, thành phố Cần Thơ để ăn tối và nằm ngủ chờ đến khuya thực hiện hành vi trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28/7/2023, di chuyển vào khu dân cư P, sau đó Hoàng A dừng xe ô tô tải lại đậu cách vị trí bắt trộm con bò khoảng 200m. Lúc này, T xuống xe đi đến dùng dao thái lan mang theo cắt dây buộc rồi trộm cắp 01 (một) con bò cái màu trắng, trọng lượng 320 kg trong đàn bò của anh Trần Minh T2 là chủ sở hữu. Sau đó, THoàng A dắt bò lên thùng xe rồi chạy xe về đậu tại đường N thuộc phường T, quận B, thành phố Cần Thơ để ngủ để chờ trời sáng mang đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an phường T, quận B, tuần tra, phát hiện cùng tang vật là xe ôtô tải biển kiểm soát 65C-125.17 và con bò vừa trộm cắp được trên địa bàn quận C nên bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ tiếp nhận giải quyết theo quy định.

Kết luận định giá tài sản số: 74/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (một) con bò cái màu trắng, trọng lượng 320 kg (đã thu hồi được, đang bảo quản tại Công an quận C) có giá trị 24.000.000₫ (Hai mươi bốn triệu đồng).

Tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình của mình như trên. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Xét lời thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của các bị hại, nhân chứng và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án.

Xét thấy, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của các bị hại, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản, để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tài sản mà các bị cáo lấy trộm của các bị hại là những con bò được nuôi thả trong các khu dân cư, những khoảng đất trống. Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 7 năm 2023, THoàng A đã thực hiện tổng cộng 07 vụ trộm cắp tài sản sản trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ và huyện C, tỉnh Hậu Giang (cụ thể thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ), tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A đã lấy trộm có tổng giá trị là 161.550.000đ (Một trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi này của Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác.

Đối với Nguyễn Thanh N2 đã giúp sức, với vai trò đồng phạm cùng với Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A thực hiện hành vi trộm tài sản là 02 (hai) con bò của ông Nguyễn Minh L1, giá trị tài sản bị lấy trộm theo Kết luận định giá tài sản số: 19/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Hành vi này của Nguyễn Thanh N2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết định khung được quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N2 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác.

Đối với Nguyễn Thành N đã giúp sức, với vai trò đồng phạm cùng với Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A thực hiện hành vi trộm tài sản là 02 (hai) con bò của ông Nguyễn Oai H1, giá trị tài sản bị lấy trộm theo Kết luận định giá tài sản số: 71/TCKH-HĐĐG ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận C kết luận giá trị tài sản thiệt hại định giá được là: 28.800.000₫ (Hai mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng ). Hành vi này của Nguyễn Thành N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết định khung được quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, không an tâm cho người có tài sản, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức nhưng lại lười lao động, không lo làm ăn chân chính để tạo ra của cải, thu nhập để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình. Ngược lại, chỉ vì lòng tham, muốn có tài sản mà không phải bỏ ra công sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình. Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Hoàng A, T đã thuê xe để làm phương tiện phạm tội, trong một khoảng thời gian ngắn các bị cáo thực hiện nhiều vụ trộm tài sản gây hoang mang cho nguời dân địa phương, mất an ninh trật tự xã hội. Cho nên, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của hai bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục, cải tạo bản thân tốt hơn và phòng ngừa chung trong xã hội.

Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự phân công cụ thể về vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét về tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội khác nhau, cho nên cần phân hoá trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt phù hợp và tương xứng đối với từng bị cáo, cụ thể:

Đối với Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A phạm tội với vai trò là người rủ rê, người thực hành, chuẩn bị công cụ, phương tiện, đồng thời cũng là người đem tài sản lấy trộm được đem bán và chia tiền lại cho Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N nên bị cáo THoàng A chịu mức hình phạt ngang nhau. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu, hai bị cáo là người cảnh giới, quan sát để cho bị cáo THoàng A lấy trộm tài sản. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N3 giá trị tài sản bị cáo lấy trộm thấp hơn bị cáo Nguyễn Thanh N2, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án này, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích”, cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, nên cần có một mức hình phạt nghiêm.

Hội đồng xét xử xét thấy, cần có một mức hình phạt nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước như: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm cả bốn bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bốn bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A đã tự nguyện khắc phục, bồi thường cho các bị hại Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Oai H1, Lê Chí T3Trần Văn Đ1 theo yêu cầu của bị hại, và bồi thường một phần cho bị hại Nguyễn Minh L1. Đồng thời, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với bị cáo THoàng A được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy:

Mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù, mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A là phù hợp, có căn cứ xem xét chấp nhận.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N2Nguyễn Thành N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo N2 chưa có tiền án, tiền sự, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm đối với hai bị cáo được quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy:

Mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Thanh N2 là phù hợp, có căn cứ xem xét chấp nhận.

Mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Thành N là phù hợp, có căn cứ xem xét chấp nhận.

Đối với hành vi của Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A cùng với Nguyễn Thành D3 trộm bò trên địa bàn phường A, quận N, thành phố Cần Thơ đã được khởi tố xử lý thành vụ án khác, nên không đặt ra xem xét, xử lý trong vụ án này.

Đối với hành vi của Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A thực hiện trộm cắp tài sản ở địa bàn quận B, thành phố Cần Thơ; thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, do chưa xác định được bị hại, các thông tin có liên quan, cơ quan điều tra quận C đã có văn bản thông tin phối hợp để xử lý theo quy định, nên không đặt ra xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với ông Nguyễn Hoàng S1 chủ dịch vụ cho thuê xe “Hoàng Sĩ 9999”, khi cho các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A thuê xe ôtô tải nhưng không biết các bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn D1, chủ sở hữu của xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 65E1-380.48, nhưng không biết việc Nguyễn Thanh N2 sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Đối với các đối tượng mua bò, các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A xác nhận không quen biết, không có thông tin cụ thể, nên chưa có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án này.

[4] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra bị hại Nguyễn Văn Ú yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), Nguyễn Oai H1 yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), Lê Chí T3 yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), Trần Văn Đ1 yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A cùng gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền này, các bị hại Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Oai H1, Lê Chí T3Trần Văn Đ1 không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản nào, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với bị hại Trần Minh T2 đã nhận lại tài sản mất trộm là 01 (một) con bò cái màu trắng, cân nặng 320 kg, ông T2 không yêu cầu bị cáo THoàng A bồi thường thêm bất cứ khoản nào nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền còn lại là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) cho bị hại ông Nguyễn Minh L1.

Kể từ ngày ông Nguyễn Minh L1 có đơn yêu cầu thi hành án mà Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A chưa bồi thường thì còn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Ghi nhận ý kiến của bị cáo Nguyễn Hoài TPhạm Hoàng A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thành N trả lại số tiền đã bồi thường 02 (hai) con bò cho ông Nguyễn Oai H1.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thành N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 583.000đ (Năm trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định, để xin Tòa án nhân dân hành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Thanh N2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 38 và 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 29/7/2023.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 38 và 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 29/7/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm tù.

Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 17/5/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38 và 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N2 09 (chín) tháng) tù.

Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 17/5/2024.

* Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao thái lan lưỡi dao bằng kim loại, cán bằng dao bằng gỗ có chữ KIWI BRAND, dài khoảng 25cm; 01 (một) con dao thái lan nhãn hiệu Kiwi, chiều dài 31,5cm, phần lưỡi dài 20cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) con dao loại dao chặt chiều dài 41cm, bề lưỡi rộng nhất 3,5cm đã qua sử dụng và 01 (một) búa không nhãn hiệu, cán bằng gỗ có chiều dài 42cm đã qua sử dụng, đây là những công cụ mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, gắn sim số 0706.765.157 thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoài T và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu đen, gắn sim số: 0899.450.611 thu giữ của bị cáo Phạm Hoàng A do liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Nguyễn Hoàng S1 gồm 01 (một) xe ô tô tải loại xe thùng có mui, hiệu Kia, tải trọng 3995kg, màu xanh biển kiểm soát 65C-125.17 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô mang tên Trần Nguyên S2.

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Trần Minh T2 01 (một) con bò cái, lông màu trắng, trọng lượng 320 kg.

* Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự.

- Trong giai đoạn điều tra bị hại Nguyễn Văn Ú yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), Nguyễn Oai H1 yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), Lê Chí T3 yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), Trần Văn Đ1 yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A cùng gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền này, các bị hại Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Oai H1, Lê Chí T3Trần Văn Đ1 không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản nào, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với bị hại Trần Minh T2 đã nhận lại tài sản mất trộm là 01 (một) con bò cái màu trắng, cân nặng 320 kg, ông T2 không yêu cầu bị cáo THoàng A bồi thường thêm bất cứ khoản nào nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền còn lại là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) cho bị hại ông Nguyễn Minh L1.

Kể từ ngày ông Nguyễn Minh L1 có đơn yêu cầu thi hành án mà Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A chưa bồi thường thì còn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Ghi nhận ý kiến của bị cáo Nguyễn Hoài TPhạm Hoàng A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thành N trả lại số tiền đã bồi thường 02 (hai) con bò cho ông Nguyễn Oai H1.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thành N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh N2, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 583.000đ (Năm trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định, để xin Tòa án nhân dân hành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

* Nơi nhận:

  • - TAND Tp.Cần Thơ;
  • - VKSND Tp.Cần Thơ;
  • - VKSND Q.Cái Răng;
  • - Trại giam, Công an Tp.Cần Thơ;
  • - Cơ quan Thi hành án;
  • - Bị cáo; Các đương sự;
  • - Lưu HS.

Phan Vũ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản BC Nguyễn Hoài T cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger