|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 28/05/2024
“V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi
- - Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông Nguyễn Thành Đến
- 2/ Ông Lâm Thái Hiệp
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 05 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST–HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Giang Mỹ L, sinh năm 1985
- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp ĐSĐ, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: ấp ĐSĐ, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị Giang Mỹ L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Trần Văn H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2024 và tại bản tự khai ngày 29/02/2024 nguyên đơn chị Giang Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 12/7/2011. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về quan hệ con chung: Chị L xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh H có 02 người con chung là cháu Trần Kim Giào, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Trần Hoàng Phước, sinh ngày 14/01/2018. Hiện tại cháu Giào và cháu Phước đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi cháu Trần Kim Giào và cháu Trần Hoàng Phước và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị L không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Trần Văn H: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Trần Văn H nhưng anh Trần Văn H không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Trần Văn H. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh Trần Văn H không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Trần Văn H vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp ĐSĐ, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Trần Văn H có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Giang Mỹ L được ly hôn anh Trần Văn H;
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Kim Giào, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Trần Hoàng Phước, sinh ngày 14/01/2018 cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở;
- Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Giang Mỹ L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn H và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Văn H có nơi đăng ký thường trú tại ấp ĐSĐ, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Giang Mỹ L tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị L. Bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Trần Văn H.
Về nội dung:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 12/7/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị L xác định giữa chị và anh H có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị L không thể hàn gắn với anh H được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Nay chị L nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị L và anh H có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Giang Mỹ L được ly hôn anh Trần Văn H.
[5] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị L xác định giữa chị và anh H có 02 người con chung là cháu Trần Kim Giào, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Trần Hoàng Phước, sinh ngày 14/01/2018. Hiện tại cháu Giào và cháu Phước đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi cháu Giào và cháu Phước và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Giào và cháu Phước hiện đang sống ổn định với Lý, các cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định, đồng thời cháu Giào cũng có nguyện vọng được theo sống chung với chị L. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Trần Kim Giào, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Trần Hoàng Phước, sinh ngày 14/01/2018 cho chị Giang Mỹ L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[6] Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Giang Mỹ L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Giang Mỹ L được ly hôn anh Trần Văn H.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Kim Giào, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Trần Hoàng Phước, sinh ngày 14/01/2018 cho chị Giang Mỹ L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Giang Mỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Giang Mỹ L phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị L đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0007527 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Bé Nhi |
5
Bản án số 50/2024/HNGĐ - ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn
