TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/5/2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Nhân.
- Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024, về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1992; địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 15/4/2024.
- Bị đơn: Anh Lê Quang T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn để ngày 08/01/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Lê Quang T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 19/10/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm. Từ năm cuối năm 2018 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Nay chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày vợ chồng có 01 người con chung là cháu Lê Nguyễn Bảo V, sinh ngày 26/3/2018. Chị H yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh cháu Lê Nguyễn Bảo V, bản sao căn cước công dân của chị Nguyễn Thị Thanh H; Thông báo số định danh cá nhân và thông tin cư trú của công dân.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Lê Quang T nhưng quá thời hạn luật định, anh T không có bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh Lê Quang T như sau: Anh T và chị Nguyễn Thị Thanh H kết hôn năm 2018, cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên hai người người sống ly thân đã nhiều năm. Gia đình đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án và đã trực tiếp thông báo đầy đủ cho anh T nhưng do bận công việc làm ăn nên anh T không đến Tòa án được, đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt anh T.
Tại phiên tòa ngày 08/5/2024, anh T vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa đồng thời tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho anh T. Tại phiên toà lần thứ hai, anh T tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhiều lần vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn là anh Lê Quang T, có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phong Điền.
1.2. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 08/5/2024, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Lê Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 19/10/2018, do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau nên thường xuyên cải vã, xúc phạm. Hai người sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay không quan tâm chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo về phiên hoà giải nhưng bị đơn nhiều lần vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Xét yêu cầu của chị H về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Nguyễn Bảo V, sinh ngày 26/3/2018 thấy rằng: Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu V ở với chị H, anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu V cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H. Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Lê Quang T.
- Về việc nuôi con chung:
Giao cháu Lê Nguyễn Bảo V, sinh ngày 26/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Lê Quang T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Lê Quang T có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000806 ngày 12/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Nga |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân và gia đình Nguyễn Thị Thanh H - Lê Quang T
