TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và
tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Ngọc Ứng;
- Bà Nguyễn Thị Phương Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Khương Thị Hồng Đào, sinh ngày 01/01/1993 (có mặt);
- Bị đơn: Anh Lê Văn Không, sinh năm 1988 (vắng mặt lần thứ 2).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hòa Thuận, xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hòa Thuận, xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật là ông Dương Quyết Thắng, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Địa chỉ: Số 169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện theo ủy quyền là bà Dương Thị Thùy Dương, sinh năm 1983, chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Hồng Ngự (Theo văn bản ủy quyền số: 03/QĐ-NHCS ngày 08/3/2023) (có mặt).
Địa chỉ: Đường Lê Hồng Phong, phường An Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Khương Thị Hồng Đào trình bày:
Chị và anh Lê Văn Không tổ chức cưới nhau 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, hôn nhân tự tìm hiểu trước. Cuộc sống hôn nhân có hạnh phúc được vài năm, nhưng đến khi sinh con thứ 2 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống kinh tế thiếu thốn, vợ chồng hay cự cãi nhau nên hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Không.
Về con chung: Chị và anh Không chung sống có 02 con chung tên Lê Quốc Duy, sinh ngày 27/9/2011 và Lê Hải Đăng, sinh ngày 14/02/2018 hiện đang sống chung với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Không cấp dưỡng vì chị có khả năng nuôi con. Hiện nay chị đang làm thuê tại quán ăn, thu nhập tháng 6.000.000đồng nên đủ khả năng lo cho con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh Không có vay tín chấp tại Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch thành phố Hồng Ngự số tiền gốc là 20.000.000đồng, hàng tháng vợ chồng chị đều đóng lãi đầy đủ cho Ngân hàng và có trả gốc được 1.000.000đồng, còn nợ lại tiền gốc là 19.000.000 đồng. Nay chị và anh Không ly hôn, Ngân hàng yêu cầu chị và anh Không mỗi người có nghĩa vụ trả ½ nợ vay tiền gốc cùng với tiền lãi, chị thống nhất.
* Đối với bị đơn Lê Văn Không: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án, mà chỉ gửi văn bản (ngày 18/4/2024) trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào như sau:
Về hôn nhân: Anh thống nhất ly hôn theo yêu cầu của chị Đào.
Về con chung: Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi 2 con chung và không yêu cầu chị Đào cấp dưỡng.
3
Về tài sản chung: Vợ chồng căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, diện tích ngang 05 mét, dài 12 mét, tọa lạc tại ấp Tân Hòa Thuận, xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Nay ly hôn, anh yêu cầu được quản lý, sử dụng.
Về nợ chung của vợ chồng: Anh thừa nhận, vợ chồng có vay tại Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch thành phố Hồng Ngự số tiền gốc là 20.000.000đồng. Nay vợ chồng ly hôn, anh đồng ý cùng chị Đào trả số nợ trên cho ngân hàng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - người đại diện theo ủy quyền là bà Dương Thị Thùy Dương trình bày:
Ngày 16/01/2023 anh Không có vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Hồng Ngự chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền 20.000.000đồng, hạn trả cuối cùng 16/11/2027, trong quá trình vay, anh Không có đóng lãi đầy đủ và trả gốc được 1.000.000 đồng, hiện còn nợ tiền gốc 19.000.000 đồng. Do anh Không và chị Đào đang yêu cầu giải quyết ly hôn, anh Không cũng không thường xuyên có mặt tại địa phương, để tránh phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng sau ly hôn, nên Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu anh Không, chị Đào mỗi người có trách nhiệm trả ½ số tiền vay còn nợ ngân hàng gốc và lãi là 19.014.000 đồng. Trong đó nợ gốc 19.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2024 là 14.000 đồng và tiếp tục tính lãi theo kế ước số 6600000724755862 ngày 16/01/2023 cho đến khi trả xong nợ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 19, 27, 37, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116, 117, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Khương Thị Hồng Đào với anh Lê Văn Không.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị Khương Thị Hồng Đào, chị Đào được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Lê Quốc Duy, sinh ngày 27/9/2011 và Lê Hải Đăng, sinh ngày 14/02/2018, anh Không không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đào tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đề cập giải quyết.
4
- Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, buộc chị Khương Thị Hồng Đào và anh Lê Văn Không mỗi người phải trả cho Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam số tiền vay gốc là 9.500.000 đồng cùng với tiền lãi tính đến ngày 19/9/2024 là 7.027,5 đồng và phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số nợ gốc theo khế ước vay tiền số 6600000724755862 ngày 16/01/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn Lê Văn Không hiện đang cư trú tại ấp Tân Hòa Thuận, xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn Không đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Khương Thị Hồng Đào yêu cầu ly hôn anh Lê Văn Không, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, cũng như trình bày của các đương sự thì chị Đào và anh Không kết hôn vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do cuộc sống kinh tế của khó khăn, nên hay cãi nhau và anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị cũng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, nay chị Đào và anh Không đều đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, tình cảm giữa vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho
5
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Căn cứ vào quy định trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào là hoàn toàn phù hợp.
[2.2] Về con chung: Chị Đào và anh Không có hai con chung tên Lê Quốc Duy, sinh ngày 27/9/2011 và Lê Hải Đăng, sinh ngày 14/02/2018 hiện đang sống chung với chị Đào. Nay ly hôn, cả chị Đào và anh Không đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu người không trực tiếp nuôi dưỡng cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Đào và anh Không sống ly thân đến nay, 02 cháu Duy và Đăng do chị Đào trực tiếp nuôi dưỡng, tình cảm giữa chị Đào với các cháu sẽ nhiều hơn so với anh Không. Đồng thời theo nguyện vọng của các cháu là khi cha mẹ ly hôn thì các cháu xin được sống chung với chị Đào.
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
“2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con".
Để đảm bảo về mọi mặt cho sự phát triển của con chưa thành niên, cũng như nguyện vọng của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử giao cháu Duy và Đăng cho chị Đào tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của anh Không.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị Đào là người trực tiếp nuôi con chung tự nguyện không yêu cầu anh Không cấp dưỡng vì chị cho rằng có khả năng nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, anh Không không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đào tự nguyện không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung:
Chị Khương Thị Hồng Đào trình bày là tài sản chung vợ chồng để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Lê Văn Không có văn bản trình bày, tài sản chung của vợ chồng có 01 nền nhà cùng với căn nhà cấp 4, diện tích ngang 05 mét, dài 12 mét tọa lạc tại ấp Tân Hòa Thuận, xã Tân Hội, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, nay ly
6
hôn anh yêu cầu được quản lý, sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, anh Không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có thông báo cho anh Không biết về việc có yêu cầu chia tài sản chung thì phải nộp đơn và thực hiện thủ tục tạm ứng án phí theo quy định để Tòa án có căn cứ xem xét giải quyết yêu cầu của anh, nhưng hết thời gian thông báo anh vẫn không cung cấp nên Tòa án không xem xét giải quyết yêu cầu của anh. Nếu sau này, chị Đào và anh Không có tranh chấp về tài sản chung sau khi ly hôn thì giải quyết thành vụ án khác.
[2.4] Về nợ chung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu chị Đào và anh Không trả số tiền còn nợ gốc 19.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2024) là 14.055 đồng, trong đó anh Không có nghĩa vụ trả tiền gốc 9.500.000 đồng và tiền lãi 7.027 đồng, chị Đào có nghĩa vụ trả tiền gốc 9.500.000 đồng và tiền lãi 7.027 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào khế ước vay tiền số 6600000724755862 ngày 16/01/2023 giữa Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam với anh Lê Văn Không thì anh Không và chị Đào có vay của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam số tiền gốc là 20.000.000đồng, với lãi suất là 9%/năm, thời hạn thanh toán cuối cùng ngày 16/11/2027. Trong qua trình vay vốn, thì anh Không và chị Đào đều đóng lãi đầy đủ và trả gốc được 1.000.000đồng, còn nợ tiền gốc là 19.000.000 đồng. Hiện nay, chị Đào và anh Không ly hôn, Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu anh Không và chị Đào mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền vay còn thiếu gốc và lãi cho ngân hàng. Anh Không, chị Đào cũng đồng ý mỗi người trả số nợ trên cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các đương sự và phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Số tiền gốc còn nợ là: 19.000.000đồng, tiền lãi tính đến ngày 19/9/2024 là 14.055 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 19.014.055 đồng, số tiền này anh Không và chị Đào mỗi người có nghĩa vụ trả ½ cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, cụ thể anh Không phải trả tiến gốc là 9.500.000 đồng và tiền lãi là 7.027 đồng, chị Đào phải trả tiền gốc là 9.500.000 đồng và tiền lãi là 7.027 đồng và phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ mỗi người có nghĩa vụ trả theo khế ước vay tiền số 6600000724755862 ngày 16/01/2023 cho đến khi trả xong nợ.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
7
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:
Nguyên đơn chị Khương Thị Hồng Đào phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và 475.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trên nghĩa vụ trả nợ, tổng cộng là 775.500 đồng (bảy trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng) nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị chị Đào đã nộp theo biên lai thu số 0005066 ngày 08/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị Đào phải nộp tiếp 475.500 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
Bị đơn anh Lê Văn Không phải chịu 475.500 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Từ các phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 19, 37, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Khương Thị Hồng Đào.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị Khương Thị Hồng Đào.
- Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
Chị Khương Thị Hồng Đào được ly hôn với anh Lê Văn Không.
Chị Khương Thị Hồng Đào được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Lê Quốc Duy, sinh ngày 27/9/2011 và Lê Hải Đăng, sinh ngày 14/02/2018. Anh Lê Văn Không không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đào tự nguyện không yêu cầu. Chị Đào cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Không trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
8
Buộc chị Khương Thị Hồng Đào anh Lê Văn Không mỗi người có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tiền gốc là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2024 là 7.027 đồng (bảy nghìn không trăm hai mươi bảy đồng), tổng cộng gốc và lãi là 9.507.027 đồng (chín triệu năm trăm lẽ bảy nghìn không trăm hai mươi bảy đồng) và phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ mỗi người có nghĩa vụ trả theo khế ước vay tiền số 6600000724755862 ngày 16/01/2023 cho đến khi trả xong nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Khương Thị Hồng Đào phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 775.500 đồng (bảy trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng) nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị chị Đào đã nộp theo biên lai thu số 0005066 ngày 08/4/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị Đào phải nộp thêm 475.500 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn anh Lê Văn Không phải chịu 475.500 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
