Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 19/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ – TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Quang Thạch, Cán bộ Tư pháp xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình;

- Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Phó Phòng Nội vụ huyện Lệ Thủy (nguyên là Phó Bí thư Huyện Đoàn Lệ Thủy), tỉnh Quảng Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện VKSND huyện Lệ Thuỷ tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Diện, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 16/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 07/9/2024, đối với bị cáo:

Hoàng Anh T, sinh ngày 11/02/2006 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình, nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Q, sinh năm 1974 và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; tiên án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Đặng Nguyễn Tiến M, sinh ngày 24/02/2007, tính đến ngày bị xâm phạm tài sản, cháu Minh 17 tuổi 02 tháng 19 ngày, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hữu K, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thọ T, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, Hoàng Anh T đến nhà ông Nguyễn Hữu K ở thôn L, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình để trộm cắp tài sản. Khi đến, T leo qua hàng rào vào nhà, T đến phòng ngủ thấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max của Đặng Nguyễn Tiến M (cháu ngoại ông K), đang cắm sạc ở đầu giường. T lấy trộm điện thoại của M rồi đi về nhà. Đến khoảng 9 giờ 00 phút cùng ngày, T mang điện thoại đã lấy trộm đến bán cho anh Nguyễn Thọ T là chủ cửa hàng T Mobile với số tiền 17.300.000 đồng (mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua xong, anh T nghĩ T còn nhỏ mà đã có chiếc điện thoại giá trị như vậy nên không yên tâm và đã gọi điện cho T để trả lại điện thoại. T quay lại cửa hàng nhận lại điện thoại và đưa lại số tiền 17.300.000 đồng (mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng) cho anh T. Sau đó, T tiếp tục đưa điện thoại đến thị trấn K để bán. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đứng ở đường thuộc Tổ dân phố X, thị trấn K, thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra trên người T, phát hiện 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max màu đen. T khai nhận điện thoại di động trên là T lấy trộm của M vào sáng ngày 13/5/2024. Sau đó lực lượng Công an đưa T về trụ sở làm việc.

Tại kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max màu đen đã qua sử dụng, mua vào ngày 07/5/2024 có giá trị tại thời điểm định giá là 23.850.000 đồng (hai mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lệ Thủy đã tạm giữ 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone 14 Pro max màu đen, đã qua sử dụng.

Ngày 28/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã trả lại điện thoại trên cho chủ sở hữu Đặng Nguyễn Tiến M.

Về dân sự: Bị hại cháu Đặng Nguyễn Tiến M và đại diện hợp pháp đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKSNDLT ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Hoàng Anh T về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Qua tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo Hoàng Anh T từ 06 đến 09 tháng tù; vật chứng, Cơ quan Điều tra đã xử lý; trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu nên không đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Anh T khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và cũng như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hoàng Anh T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, đêm khuya lén lút trộm cắp tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max trị giá 23.850.000 đồng của cháu Đặng Nguyễn Tiến M. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đồng thời bị hại cháu Đặng Nguyễn Tiến M là bạn thường chơi với nhau, nhà ông K là hàng xóm với bị cáo nhưng bị cáo vẫn cố tình trộm cắp tài sản của họ, chứng tỏ bị cáo đã để ý đường đi lối lại trong nhà ông K từ trước, để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do đó cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung vụ án cũng như xét hỏi công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật,

[5]. Vật chứng: Các vật chứng đã thu giữ, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét;

[6].Về dân sự: Bị hại cháu Đặng Nguyễn Tiến M và đại diện hợp pháp vắng mặt nhưng lời khai tại cơ quan Điều tra thể hiện đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[8].Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Anh T trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án 19/9/2024, để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng).

- Bị cáo Hoàng Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/9/2024), bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thâm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại và ĐDHP;
  • - VKSND h. Lệ Thủy;
  • - VKSND t. Quảng Bình;
  • - TAND t. Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS h. Lệ Thủy;
  • - Công an h. Lệ Thủy và ĐTV;
  • - Sở Tư pháp t.Quảng Bình;
  • - Bộ phận THAHS;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY – TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY – TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án đã có hiệu lực pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger