|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-PT
Ngày 19/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Ông Đặng Minh Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Trọng Bảo K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Trọng Bảo K, sinh năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số H gác B C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: nguyên là Cán bộ Ngân hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc C và bà Trương Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 08/7/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm của chị Nguyễn Thị Huyền T1; sinh năm: 1994; nơi cư trú: Số C T, xã T, huyện C, tỉnh Long An về việc: Ngày 27/7/2022, chị T1 sử dụng ứng dụng Internet Banking để chuyển tiền, tuy nhiên do bấm nhầm số tài khoản nhận tiền nên chị đã chuyển nhầm 02 lần tổng cộng là 700.000.000 đ (Bảy trăm triệu đồng) đến tài khoản của Phạm Trọng Bảo K. Chị T1 đã liên lạc với K để được nhận lại tiền, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 27/7/2022, chị Nguyễn Thị Huyền T1 sử dụng ứng dụng Internet Banking của ngân hàng T2, số tài khoản: 19038704378015 của chị T1 chuyển khoản tổng số tiền là 700.000.000 đồng đến số tài khoản 6666333636666 ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M) để trả nợ. Trong quá trình thao tác chuyển tiền trên ứng dụng điện thoại, chị T1 đã bấm số tài khoản nhận tiền thiếu một chữ số "3" thành "666633636666" và đã thực hiện chuyển khoản nhầm 02 lần với tổng số tiền là 700.000.000 đồng đến số tài khoản 666633636666 ngân hàng M1 của Phạm Trọng Bảo K. Khoảng 5 phút sau, khi phát hiện ra mình chuyển tiền nhầm, chị T1 đã thực hiện chuyển khoản tiếp 02 lần số tiền 50.000 đồng, 02 lần số tiền 20.000 đồng từ tài khoản của chị T1 đến tài khoản của K, để nhắn lời thông báo ở phần nội dung chuyển khoản về việc chuyển nhầm tiền và đề nghị K trả lại tiền, nhưng K đã không trả lại cho chị T1. Sau khi tìm hiểu chị T1 đã có được thông tin cá nhân, Facebook và số điện thoại của K. Sáng ngày 02/8/2022, chị T1 gọi điện cho K yêu cầu K trả lại 700.000.000 đồng, nhưng do đã sử dụng hết số tiền chị T1 chuyển nhầm và không muốn trả lại tiền cho chị T1 nên K đã đưa ra lý do "phải làm việc với ngân hàng hoặc ra cơ quan Công an trình báo thì K mới trả lại tiền". Tối ngày 02/8/2022, chị T1 ra Hà Nội để tìm gặp K, chị T1 gọi điện liên lạc nhưng K không nghe máy. Chị T1 tiếp tục nhắn tin đến tài khoản Facebook của K để yêu cầu gặp K xin lại tiền chuyển nhầm nhưng K không đồng ý gặp và sau đó nhiều ngày K cũng không trả tiền cho chị T1.
Ngày 08/7/2023, Phạm Trọng Bảo K bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L. Tại Cơ quan điều tra K khai nhận: Ngày 27/7/2022, khi mở ứng dụng ngân hàng "M1" số tài khoản 666633636666 của mình trên điện thoại, K thấy tài khoản trên được cộng thêm số tiền 700.000.000 đồng và các nội dung thông báo về việc chuyển nhầm tiền và người chuyển nhầm muốn xin lại tiền. K biết rõ là có người chuyển nhầm tiền, nhưng do đang nợ tiền nhiều người và cần tiền tiêu xài cá nhân nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên để sử dụng. Sợ chị T1 báo ngân hàng phong tỏa tài khoản sẽ không rút được tiền nên ngay lập tức, K chuyển khoản số tiền 700.000.000 đồng từ tài khoản 666633636666 sang một tài khoản ngân hàng M1 khác của K, số tài khoản là 8988699898888. Số tiền này K đã sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết... Khi chị T1 gọi điện, nhắn tin, K biết là tìm gặp để đòi tiền nên đã có tình trốn tránh để chiếm đoạt số tiền của chị T1. Hiện K chưa trả khoản tiền nào cho chị T1.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 2 Điều 176; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Trọng Bảo K 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”; Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Phạm Trọng Bảo K phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Huyền T1 số tiền 700.000.000 đ (Bảy trăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm trả tiền, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Trọng Bảo K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có bố đẻ bị cáo là thương binh hạng 4/4 nên với mức hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tội này. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu điều tra khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/7/2022, bị cáo Phạm Trọng Bảo K đã có hành chiếm giữ của chị Nguyễn Thị Huyền T1 số tiền 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng do chị Nguyễn Thị Huyền T1 chuyển khoản nhầm qua số tài khoản của K. Những ngày sau đó, mặc dù chị T1 đã nhiều lần liên lạc yêu cầu K trả lại tiền nhưng K cố tình không trả. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 700.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Trọng Bảo K tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” được quy định khoản 2 Điều 176 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo:
[2] Bị cáo kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là thương binh hạng 4/4 nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tài liệu chứng cứ mới để được giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trọng Bảo K; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 176; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Trọng Bảo K 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giam là ngày 08 tháng 7 năm 2023.
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Trọng Bảo K phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
|
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Duy Thạch Đặng Minh Hạnh |
Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 50/2024/HS-PT ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội chiếm giữ trái phép tài sản
- Số bản án: 50/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Chiếm giữ trái phép tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự phúc thẩm về tội "Chiếm giữ trái phép tài sản"
