TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày 18/7/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
Ông Lê Phi Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Phạm Trung T1, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Nhật Bản, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: chị T và anh Phạm Trung T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 15/10/2010, tại UBND phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh Thực tại phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn do kinh tế khó khăn vì phải chữa bệnh về sinh sản, công việc làm ăn không thuận lợi. Năm 2019, anh T1 đi lao động hợp tác tại Nhật Bản mục đích để giải quyết khó khăn về kinh tế gia đình nhưng từ khi anh T1 đi Nhật Bản thì tình cảm vợ chồng bị ảnh hưởng. Thời gian đầu, anh T1 còn liên lạc về với chị T và con chung nhưng từ năm 2022 đến nay, anh T1 chưa về Việt Nam thăm gia đình và không cung cấp địa chỉ nơi ở, nơi làm việc tại Nhật Bản cho chị T biết. Chị T thấy không còn tình cảm với anh T1, mục đích hôn nhân không còn nên yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị T được ly hôn anh T1 để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: chị T và anh T1 có 01 con chung là Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015. Chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với bà Phạm Thị X, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh là mẹ đẻ của anh Phạm Trung T1, thể hiện: từ khi anh Phạm Trung T1 đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu anh T1 còn liên lạc với bà X. Từ năm 2022 đến nay, anh T1 không liên lạc cũng không về thăm gia đình. Bà X không biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh Thực tại Nhật Bản nên không cung cấp cho Toà án được. Anh T1 cũng không cung cấp địa chỉ tại Nhật Bản cho bà X biết. Bà X đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Toà án giao cho anh T1, cam đoan sẽ thông báo cho anh T1 được biết về việc chị T xin ly hôn anh T1.
* Tại Biên bản ghi ý kiến ngày 06/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với cháu Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015; địa chỉ: tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, thể hiện: cháu Q là con chung của chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung T1. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu Q có nguyện vọng ở cùng với mẹ.
* Tại Công văn số: 10598/QLXNC-P3 ngày 22/5/2024 của Cục Q1 - Bộ C cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Phạm Trung T1 như sau: trường hợp Phạm Trung T1, sinh ngày 15/12/1987, CCCD số: [...]; địa chỉ: Q, U, tỉnh Quảng Ninh, xuất cảnh ngày 26/7/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
* Ngày 20/5/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tống đạt Văn bản số: 65/2024/CV-TA ngày 20/5/2024 về việc: đề nghị bà Phạm Thị X là mẹ đẻ của anh Phạm Trung T1, thông báo cho anh T1 viết bản tự khai thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của chị Hoàng Thị T. Hiện nay vẫn chưa nhận được kết quả.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Hoàng Thị T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T đối với anh Phạm Trung T1: chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Phạm Trung T1; giao con chung Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, anh Phạm Trung T1 không phải cấp dưỡng cho con.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; bị đơn anh Phạm Trung T1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, khu E, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, hiện nay đang ở Nhật Bản. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Nguyên đơn chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Trung T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho người thân trong gia đình; Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương nơi bị đơn anh Phạm Trung T1 đăng ký hộ khẩu thường trú theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung T1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/10/2010, tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn do kinh tế khó khăn vì phải chữa bệnh về sinh sản, công việc làm ăn không thuận lợi. Năm 2019, anh T1 đi lao động hợp tác tại Nhật Bản mục đích để giải quyết khó khăn về kinh tế gia đình. Từ khi anh T1 đi Nhật Bản, thời gian đầu còn liên lạc về với chị T và con chung nhưng từ năm 2022 đến nay, anh T1 chưa về Việt Nam thăm gia đình.
Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: giữa chị T và anh T1 không còn tồn tại đời sống chung vợ chồng, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T đối với anh T1.
[2.2] Về con chung: chị Hoàng Thị T và anh Phạm Trung T1 có một con chung là Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015. Từ khi anh T1 đi lao động tại Nhật Bản và hiện nay, con chung Phạm Hoàng Q do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con chung. Căn cứ quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T đối với anh T1 nên chấp nhận yêu cầu của chị T: giao con chung Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Hoàng Thị T không yêu cầu anh Phạm Trung T1 cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Hoàng Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Phạm Trung T1.
[2] Về con chung: giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Hoàng Q, sinh ngày 24/6/2015 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Trung T1 không phải cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Trung T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Trung T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hoàng Thị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Hoàng Thị T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phạm Trung T1 có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005805 ngày 02/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Hoàng Thị T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Phạm Trung T1 biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoang Thi T - Pham Trung T
