Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 17-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Đinh Thị Tâm;
  • Ông Nguyễn Duy Pha.

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phương Văn Đ; sinh ngày 04 tháng 9 năm 1984, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Văn S và bà Nông Thị T; có vợ: Triệu Thị N, sinh năm 1981, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 02/11/2023, tạm giam ngày 08/11/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

  2. Vi Văn T1; sinh ngày 12 tháng 5 năm 1995, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N1 (đã chết) và bà Vi Thi B; có vợ: Phùng Thị U, sinh năm 1996, có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 02/11/2023, tạm giam ngày 08/11/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • 1. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1990. Vắng mặt;
  • 2. Anh Lăng Tuấn V, sinh năm 2003. Vắng mặt;

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Trọng T2, sinh năm 1992. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an huyện V, phối hợp với Công an xã T làm nhiệm vụ tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện tại nhà của Vi Văn T1 có nhiều người nam giới tụ tập. Tổ công tiến hành kiểm tra tại bàn uống nước ngoài sân cạnh bếp nhà Vi Văn T1 phát hiện Phương Văn Đ, Hoàng Văn Q và L V đang ngồi uống nước. Phương Văn Đ tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người ra 02 gói giấy kẻ màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, Phương Văn Đ khai nhận là ma túy Heroin của Phương Văn Đ và Vi Văn T1 góp mỗi người 1.000.000 đồng đi mua ma túy về chia thành gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời và khai nhận trước đó, Phương Văn Đ vừa bán ma túy cho Hoàng Văn Q và Lăng T3 V mỗi người 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Tổ công tác đã đưa Phương Văn Đ, Hoàng Văn Q và Lăng Tuấn V cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản bắt người quả tang.

Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ gồm: 02 (hai) gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy niêm phong trong một phong bì ghi chữ “QT Phương Văn Đ”; số tiền 600.000 đồng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, chỗ ở đối với Vi Văn T1 thu giữ, tạm giữ gồm: 01 căn cước công dân mang tên Vi Văn T1; 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 gói giấy kẻ màu trắng bên trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy niêm phong trong một phong bì ghi chữ “KX Vi Văn T1”; 02 túi nilon dạng túi zip; 01 (một) ống nhựa màu hồng, một đầu vót nhọn có chiều dài 04cm; 01 kéo sắt cán màu đỏ dài 20cm; 01 vở ô ly; 06 mảnh giấy hình vuông 2x2cm.

Tại bản Kết luận giám định số: 1099/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Phong bì ghi chữ “QT Phương Văn Đ”, bên trong có: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma tuý Heroin có tổng khối lượng 0,124 gam (đã trừ bì); phong bì ghi chữ “KX Vi Văn T1”, bên trong có: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma tuý Heroin có tổng khối lượng 0,247 gam (đã trừ bì).

Quá trình điều tra các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 đều khai nhận: Khoảng chiều tối ngày 01/11/2023, Phương Văn Đ đến nhà Vi Văn T1, rủ nhau mỗi người góp 1.000.000 đồng, tổng được 2.000.000 đồng mục đích tìm mua ma túy Heroin về chia nhỏ bán kiếm lời. Phương Văn Đ cầm tiền. Sau đó, Phương Văn Đ và Vi Văn T1 cùng nhau bắt xe khách đến xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy. Khi đến ngã ba P thuộc thôn N, xã T, Phương Văn Đ và Vi Văn T1 xuống xe, đang đi bộ thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng cạnh đường, người đàn ông hỏi Phương Văn Đ và Vi Văn T1 có mua ma túy không, Phương Văn Đ và Vi Văn T1 hỏi mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng, người đàn ông đồng ý. Phương Văn Đ đưa tiền cho người đàn ông, người đàn ông bảo đợi. Sau đó, người đàn ông đi bộ vào trong thôn N. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại, lấy từ trong người đưa cho Phương Văn Đ một túi nilon màu trắng, bên trong có chứa cục chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin. Phương Văn Đ nhận số ma túy trên cất vào túi áo khoác đang mặc trên người rồi cùng Vi Văn T1 bắt xe khách đi về nhà Vi Văn T1. Khi về đến nhà Vi Văn T1, cả 02 người vào giường trong phòng khách lấy gói ma túy ra cùng nhau chia nhỏ được 26 gói ma túy Heroin. Sau đó, Phương Văn Đ tự lấy 02 gói ma túy và đi về nhà, 24 gói ma túy còn lại Phương Văn Đ và Vi Văn T1 cho vào túi nilon màu trắng, cất ở dưới chiếu trên giường ngủ trong phòng khách nhà của Vi Văn T1.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, tại sân cạnh bếp nhà mình, Vi Văn T1 bán 01 gói ma túy cho Hoàng Văn Q với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Vi Văn T1 bán 01 gói ma túy cho Lăng Tuấn V với giá 100.000 đồng. Từ tối ngày 01/11/2023 đến sáng ngày 02/11/2023, Vi Văn T1 tự sử dụng hết 06 gói ma túy, còn 16 gói ma túy Vi Văn T1 để trong túi nilon cất ở dưới chiếu trên giường ngủ trong phòng khách nhà Vi Văn T1. Khoảng 08 giờ ngày 02/11/2023, Phương Văn Đ một mình đi bộ đến nhà Vi Văn T1, thì Vi Văn T1 thấy Phương Văn Đ tiến đến giường ngủ của Vi Văn T1, lấy túi nilon chứa các gói ma túy ở dưới chiếu, mở lấy 12 gói ma túy cất vào túi áo khoác đang mặc trên người mục đích để bán kiếm lời, còn lại 04 gói ma túy, Phương Văn Đ cất lại vào chỗ cũ. Sau đó Vi Văn T1 đi ra ngoài còn Phương Văn Đ ở tại nhà Vi Văn T1 bán ma túy. Khoảng 09 giờ cùng ngày, tại cạnh bếp nhà Vi Văn T1, Phương Văn Đ bán 07 gói ma túy cho hai người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ với giá 100.000 đồng/gói, được 700.000 đồng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Phương Văn Đ bán cho Hoàng Văn Q 01 gói ma túy giá 100.000 đồng, Hoàng Văn Q mang đi đâu sử dụng thì Phương Văn Đ không rõ. Một lúc sau Hoàng Văn Q quay lại ngồi uống nước với Phương Văn Đ, thì có Lăng Tuấn V đến mua 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng, Lăng Tuấn V mang đi đâu sử dụng Phương Văn Đ không biết. Một lúc sau, Lăng T3 V quay lại ngồi uống nước với Phương Văn Đ và Hoàng Văn Q. Quá trình Phương Văn Đ bán ma túy thì Vi Văn T1 không ở nhà. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi Phương Văn Đ, Lăng Tuấn V, Hoàng Văn Q đang ngồi uống nước ở nhà Vi Văn T1, thì Công an huyện V đến kiểm tra, Phương Văn Đ đã tự giác lấy từ trong túi áo khoác đang mặc trên người 02 gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong hai gói giấy đều chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã đưa về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V lập biên bản bắt người quả tang.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 26/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định và 02 túi nilon màu trắng; 01 ống nhựa màu hồng một đầu vót nhọn; 01 kéo sắt; 01 vở ô ly; 06 mảnh giấy hình vuông; trả lại cho vị cáo Vi Văn T1 01 căn cước công dân; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 600.000 đồng. Đề nghị truy thu của bị cáo Phương Văn Đ 400.000 đồng, bị cáo Vi Văn T1 200.000 đồng. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không ai có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người làm chứng và tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định. Ngày 01/11/2023, Phương Văn Đ và Vi Văn T1 cùng nhau góp tiền mỗi người 1.000.000 đồng và cùng nhau bắt xe khách đi đến thôn N, xã T, huyện V mua ma túy 2.000.000 đồng về chia nhỏ để sử dụng và bán nhiều lần cụ thể: Khoảng 22 giờ ngày 01/11/2023, Vi Văn T1 bán 01 gói ma túy cho Hoàng Văn Q với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Vi Văn T1 bán 01 gói ma túy cho Lăng Tuấn V với giá 100.000 đồng. Khoảng 09 giờ ngày 02/11/2023, Phương Văn Đ bán 07 gói ma túy cho hai người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ với giá 100.000 đồng/gói, được 700.000 đồng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Phương Văn Đ bán cho Hoàng Văn Q 01 gói ma túy giá 100.000 đồng, Hoàng Văn Q mang đi đâu sử dụng thì Phương Văn Đ không rõ. Một lúc sau Phương Văn Đ bán cho Lăng Tuấn V 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng, Lăng Tuấn V mang đi đâu sử dụng Phương Văn Đ không biết. Địa điểm bán ma tuý tại nhà Vi Văn T1, số ma tuý còn lại chưa bán được, thu giữ của bị cáo Phương Văn Đ khi bắt quả tang, qua giám định đều là chất ma tuý Heroin có tổng khối lượng 0,124 gam (đã trừ bì); số ma tuý thu giữ của Vi Văn T1 khi khám xét, qua giám định đều là chất ma tuý Heroin có tổng khối lượng 0,247 gam (đã trừ bì). Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T4 phạm tội Mua bán trái phép chất mua túy theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  3. Xét về vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo cùng góp tiền mỗi người 1.000.000 đồng và cùng nhau đi mua ma tuý về cùng chia nhỏ để bán kiếm lời, nên vai trò trách nhiệm hình sự như nhau.

  4. Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo bị lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

  5. Về nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Ngoài tình tiết tăng nặng định khung, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự.

  6. Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo không có tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  7. Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi bán ma túy cho các bị cáo tại ngã ba P, thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo đều không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông trên. Nên cơ quan điều tra không thể tiến hành xác minh làm rõ được.

  8. Đối với anh Hoàng Văn Q và Lăng Tuấn V, là người nghiện ma túy đã mua ma túy với các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 về sử dụng trái phép. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã có công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân xã nơi anh Hoàng Văn Q và Lăng T3 Vũ cư trú đưa vào diện quản lý, giáo dục người nghiện theo quy định.

  9. Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy; đối với 02 túi nilon màu trắng dạng túi zip; 01 ống nhựa màu hồng một đầu vót nhọn có chiều dài 04cm; 01 kéo sắt cán màu đỏ dài 20cm; 01 vở ô ly; 06 mảnh giấy hình vuông 2x2cm, là vật không có giá trị, tịch thu, tiêu huỷ; đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vi Văn T1, là giấy tờ tùy thân, nên trả lại cho bị cáo Vi Văn T1; đối với số tiền 600.000 đồng, là tiền do các bị cáo bán ma túy cho anh Hoàng Văn Q và Lăng Tuấn V và một số người khác mà có. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền các bị cáo bán ma túy mà có, các bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân, nên truy thu của bị cáo Phương Văn Đ 400.000 đồng, bị cáo Vi Văn T1 200.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

  10. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  11. Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  12. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Diều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

  2. Về hình phạt chính:

    1. Xử phạt bị cáo Phương Văn Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2023.

    2. Xử phạt bị cáo Vi Văn T1 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2023.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  4. Về xử lý vật chứng:

    1. Tịch thu, tiêu hủy gồm: Số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì ghi chữ “KX Vi Văn T1” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 0,182 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói cũ; 01 phong bì ghi chữ “QT Phương Văn Đ” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 0,100 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói cũ và 02 (hai túi nilon dạng túi zip; 01 (một) ống nhựa màu hồng, một đầu vót nhọn có chiều dài 04cm; 01 (một) kéo sắt cán màu đỏ dài 20cm; 01 (một) vở ô ly; 06 (sáu) mảnh giấy hình vuông 2x2cm.

    2. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 600.000 (sáu trăm nghìn đồng).

    3. Trả lại cho bị cáo Vi Văn T1: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vi Văn T1.

    (Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/6/2024 và Lệnh thanh toán ngày 26/6/2024).

    - Truy thu của bị cáo Phương Văn Đ 400.000 (bốn trăm nghìn đồng), để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

    - Truy thu của bị cáo Vi Văn T1 200.000 (hai trăm nghìn đồng), để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

  5. Về án phí: Buộc các bị cáo Phương Văn Đ, Vi Văn T1 phải chịu mỗi bị cáo 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu VP- hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phương Văn Đ và Vi Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger