TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thảo
- Ông Tống Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1992.
- Nơi cư trú: tổ A, ấp Đ, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (có mặt)
- - Bị đơn: ông Bùi Văn T, sinh năm 1992.
- Địa chỉ thường trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp Đ, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Bùi Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 11/9/2018.
Sau khi kết hôn, bà N và ông T chung sống tại tổ A, ấp Đ, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, nhưng khoảng từ mấy năm về sau ông T tham gia cờ bạc, rượu chè ngày càng nhiều, bỏ bê việc chăm lo gia đình, con cái để tham gia những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Ông T mỗi tháng đưa rất ít hoặc không đưa chi phí sinh hoạt, để bà N một mình lo lắng việc chi tiêu, gây nợ nần khiến bà N phải trả nợ thay. Giữa hai vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã dẫn đến không khí gia đình luôn ngột ngạt, mệt mỏi kéo dài. Mặc dù ông T đã nhiều lần hứa hẹn sẽ thay đổi, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng một thời gian ngắn ông T vẫn như cũ, thậm chí còn tệ hơn, uống rượu say xỉn về mắng chửi mẹ con bà N. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Bùi Văn T.
Về con chung: bà N và ông T có 02 con chung là Bùi Trọng N1, sinh ngày 19/02/2014 và Bùi Trọng T1, sinh ngày 16/4/2019. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Bùi Trọng T1, không yêu cầu ông Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con. Ông Bùi Văn T trực tiếp nuôi con chung Bùi Trọng N1. Bà N hiện đang làm bảo mẫu tại Trường mầm non T2, mức lương hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng. Bà N hiện có nhà ở ổn định tại xã B. Ông T thì thường xuyên chơi cờ bạc, uống rượu bia nên không đảm bảo việc nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn trình bày:
Ông T thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian kết hôn, nơi kết hôn và mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do ông T chơi game online, cờ bạc, uống rượu bia. Đến nay thì hai vợ chồng vẫn sống chung với nhau. Tuy nhiên, từ đó đến nay thì ông T đã cố gắng khắc phục, thay đổi, quan tâm chăm sóc con cái, lo làm ăn để lo cho gia đình. Ông T không thống nhất ly hôn với bà N.
Về con chung: bà N và ông T có 02 con chung là Bùi Trọng N1, sinh ngày 19/02/2014 và Bùi Trọng T1, sinh ngày 16/4/2019. Trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, ông T đang làm tại Công ty TNHH B, với mức lương hàng tháng khoảng 14.000.000 đồng nên có đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Bùi Văn T giữ nguyên quan điểm, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông Bùi Văn T đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/9/2018, bà Nguyễn Thị Kim N và ông Bùi Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thị xã T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bà N xác định do ông T thường xuyên tham gia cờ bạc, rượu chè, bỏ bê việc chăm lo gia đình, con cái, gây nợ nần dẫn đến giữa hai vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, hai vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên yêu cầu ly hôn. Ông T cũng thừa nhận giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T tham gia chơi cờ bạc, uống rượu bia. Tuy nhiên, ông T xác định hiện nay đã thay đổi, lo làm ăn chăm sóc gia đình, vợ con, đồng thời mong muốn gia đình được đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, giữa bà N và ông T cũng không đưa ra được hành động hay cách thức nào để hàn gắn tình cảm, để gia đình đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà N và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà N và ông T có 02 con chung là Bùi Trọng N1, sinh ngày 19/02/2014 và Bùi Trọng T1, sinh ngày 16/4/2019. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Bùi Trọng T1, đồng ý để ông Bùi Văn T trực tiếp nuôi con chung Bùi Trọng N1. Ông T thì yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con. Xét thấy, hiện nay, bà N và ông T đều xác định có công việc, thu nhập và nơi ở ổn định nên đều có đủ điều kiện để nuôi con. Ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà N không có đủ điều kiện nuôi con. Ngoài ra, cháu T1 còn nhỏ nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, việc bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và để ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Nguyễn Thị Kim N phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N đối với bị đơn ông Bùi Văn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Bùi Văn T.
- Về con chung: giao con chung là Bùi Trọng T1, sinh ngày 16/4/2019 cho bà Nguyễn Thị Kim N được quyền trực tiếp nuôi. Giao con chung là Bùi Trọng N1, sinh ngày 19/02/2014 cho ông Bùi Văn T được quyền trực tiếp nuôi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001255 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Trung |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu ly hôn ông T
