|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 50/2024/HS - ST
Ngày: 17 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đình Rồng và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Minh Đ - Sinh ngày: 17/7/2001, tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn L - Sinh năm: 1974 và bà: Triệu Thị T - Sinh năm: 1978. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến ngày 01/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Vũ Văn C - Sinh ngày: 02/6/1980, tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vũ Văn C1 - Sinh năm: 1957 và bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1959. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Ngô Thị Kim T1 - Sinh năm: 1987, bị cáo và chị T1 chưa có con chung, bị cáo và chị Lê Thị L1 - Sinh năm 1984 (đã ly hôn) có 01 con chung sinh năm 2012.
1
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPVPHC ngày 05/8/2016 của Công an thị xã P (nay là thành phố P) xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn C về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 08/8/2016.
- Tại Bản án số 05/2020/HS-ST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt Vũ Văn C 60.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”. Chấp hành xong ngày 18/5/2020.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3971/QĐ-XPVPHC ngày 4/4/2020 của Công an thị xã P (nay là thành phố P) xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn C về hành vi “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 21/7/2020.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1959 (Là mẹ đẻ bị cáo C);
Nơi cư trú: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người chứng kiến:
- Ông Đỗ Thế H1 - Sinh năm: 1970;
- Ông Đặng Văn N - Sinh năm: 1962;
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, thành phố S, thành phố T.
Nơi cư trú: Xóm X, xã B, thành phố S, thành phố T.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/01/2024, Công an thành phố S được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại cửa hàng Đ1 thuộc xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên do Lê Minh Đạt làm chủ có biểu hiện tàng trữ trái phép pháo nổ. Đến 18 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác đến kiểm tra thì Đ tự giác giao nộp 01 thùng cát tông bên trong có 40 vật có cùng đặc điểm hình bóng đèn, đường kính rộng nhất 07 cm, đường kính nhỏ nhất 3,5 cm, chiều cao 09 cm, một đầu gắn sợi dây màu vàng dài 60 cm, dày 0,1 cm, rộng 01 cm, trên thân được dán giấy màu trắng in chữ nước ngoài màu đen, mỗi vật được bọc trong túi nilon màu trắng (Đ khai nhận là pháo nổ, loại pháo trứng mua của Vũ Văn C ngày 23/01/2024 để bán kiếm lời). Tổ công tác Công an thành phố S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 40 vật có cùng đặc điểm hình bóng đèn, đường kính rộng nhất 07 cm, đường kính nhỏ nhất 3,5 cm, chiều cao 09 cm, một đầu gắn sợi dây màu vàng dài 60 cm, dày 0,1 cm, rộng 01 cm, trên thân được dán giấy màu trắng in chữ nước ngoài màu đen, mỗi vật được bọc trong túi nilon màu trắng, được
2
niêm phong vào bì ký hiệu P. Ngoài ra, còn tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng, được niêm phong vào bì ký hiệu B và đưa Đ cùng toàn bộ vật về trụ sở giải quyết theo quy định.
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật đối với Lê Minh Đ tại xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên kết quả thu giữ:
- Trong tủ lạnh kê tại sau gian bán hàng 02 vật có cùng đặc điểm hình bóng đèn, đường kính rộng nhất 07cm, đường kính nhỏ nhất 3,5cm, chiều dài 09cm, một đầu gắn dây màu vàng dài 60cm, dày 0,1cm, rộng 01cm, trên thân được dán giấy màu trắng, in chữ nước ngoài màu đen, mỗi vật được bọc trong túi nilon màu trắng (nghi là pháo nổ), được niêm phong ký hiệu PA.
- Thu giữ số tiền 510.000 đồng trong ngăn kéo bàn bán hàng được niêm phong vào bì ký hiệu TI.
- 02 camera nhãn hiệu EZVIZ bên trong có gắn 01 thẻ nhớ, được niêm phong vào bì ký hiệu EZ.
- Thu giữ tại thùng rác ở khu vực bán hàng 01 bao tải dứa màu vàng đã bị cắt rách.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật đối với Vũ Văn C tại xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, kết quả thu giữ:
- 02 thẻ nhớ dung lượng 32G, 01 thẻ nhớ dung lượng 64G lắp ở 03 camera tại phía dưới mái tôn sân nhà ở của C, được niêm phong vào bì ký hiệu Cương 1.
- 02 vật có cùng đặc điểm, kích thước, một đầu hình cầu, một đầu hình tròn gắn dây màu xanh (nghi là pháo nổ) trong ngăn tủ gỗ bên trái cửa ra vào phòng thờ tầng 2 nhà ở của C, được niêm phong vào bì ký hiệu Cương 2.
- 01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Inova, màu xám bạc, biển kiểm soát (BKS): 20A- 180.65; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 20002304, biển số đăng ký 20A- 180.65, tên chủ xe Vũ Văn C do Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 04/7/2023. Ngoài ra, C tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh hồng, đã qua sử dụng, được niêm phòng vào bì ký hiệu C.
Hồi 13 giờ 50 phút, ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng 40 vật có cùng đặc điểm trong bì niêm phong ký hiệu P, xác định khối lượng là 6,8kg, lấy ngẫu nhiên 05 vật đưa vào bì niêm phong ký hiệu “K2” làm mẫu gửi giám định, 35 vật còn lại đưa vào bì niêm phong ký hiệu K1; 02 vật có cùng đặc điểm trong bì niêm phong ký hiệu PA có khối lượng 350 gam, sau khi cân đưa vào bì niêm phong ký hiệu K3 làm mẫu gửi giám định; 02 vật có cùng đặc điểm trong bì niêm phong ký hiệu Cương 2 có khối lượng 72 gam, sau khi cân niêm phong ký hiệu K4 làm mẫu gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 300/KL-KTHS, ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 05 vật có cùng đặc điểm dạng hình bóng đèn tròn, đường kính chỗ rộng nhất 07 cm, đường kính chỗ nhỏ nhất 3,5 cm, chiều dài 09 cm, một đầu gắn sợi dây màu vàng dài 60 cm, dày 0,1 cm, rộng 01 cm, trên thân
3
được dán giấy màu trắng in nhiều chữ nước ngoài màu đen niêm phong trong bì ký hiệu “K2” gửi giám định là pháo nổ; 02 vật có cùng đặc điểm dạng hình bóng đèn tròn, đường kính chỗ rộng nhất 07 cm, đường kính chỗ nhỏ nhất 3,5 cm, chiều dài 09 cm, một đầu gắn sợi dây màu vàng dài 60 cm, dày 0,1 cm, rộng 01 cm, trên thân được dán giấy màu trắng in nhiều chữ nước ngoài màu đen niêm phong trong bì ký hiệu “K3” gửi giám định là pháo nổ; 02 vật dạng hình bóng đèn tròn có cùng đặc điểm, bên ngoài bọc giấy mầu nâu, phần hình trụ dài 3cm, đường kính 2,7cm, gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1cm niêm phong trong bì ký hiệu K4 pháo nổ (pháo hoa nổ).
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Lê Minh Đ, Vũ Văn C khai nhận như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 22/01/2024, Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng lắp sim số 0969.577.333 (điện thoại di động của Đ) gọi điện vào số 0982.565.623 của Vũ Văn C đặt mua 40 quả pháo, loại pháo trứng, C đồng ý, thỏa thuận giá bán cho Đ là 250.000 đồng/1 quả và hẹn ngày 23/01/2024 sẽ mang pháo đến bán cho Đ. Sau đó, C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đăng nhập vào tài khoản Facebook "Cuong Vu lên mạng xã hội liên hệ người bán pháo (C không nhớ tài khoản facebook của người bán) để mua 50 quả pháo trứng, người bán đồng ý bán cho C với giá 10.500.000đồng/50 quả và hẹn giao dịch tại khu vực cầu vượt T. Đến khoảng 15 giờ 30 ngày 23/01/2024, C điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Toyota Inova, màu xám bạc, BKS: 20A- 180.65 đến khu vực cầu vượt T nhận 01 bao tải dứa màu vàng, bên trong có 50 quả pháo trứng. Cương để số pháo trên lên ghế sau xe ôtô và thanh toán cho người bán số tiền 10.500.000 đồng rồi điều khiển xe ôtô cùng số pháo mua được về bán cho Đ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, C đến của hàng điện thoại Thịnh Phát M thuộc xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, C lấy 08 quả ra cho vào túi nilon để mang về còn lại 42 quả trong bao tải dứa màu vàng giao cho Đ (trong đó 40 quả là bán cho Đ, 02 quả Cương cho Đ). Sau khi nhận được số pháo trên Đ sử dụng điện thoại di động đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng V số 6666 37 555 888 của Đ chuyển khoản thanh toán cho C số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản số 0982565623 mở tại Ngân hàng V1 của C. Sau khi C về, Đ cất giấu 40 quả vào thùng cattông và dán kín lại 02 quả cất giấu vào ngăn tủ lạnh phía sau gian bán hàng để khi nào có khách hỏi mua thì Đ bán kiếm lời. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày bị Tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt người quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKSSC, ngày 06-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C về tội: “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại Cơ quan cảnh sát điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố.
4
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Buôn bán hàng cấm, vì các bị cáo đã có hành vi mua pháo nổ (là mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành) về với mục đích bán lại cho người khác để thu lời bất chính và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS đối với bị cáo Đ, xử phạt bị cáo Đ từ 12 - 15 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo C, xử phạt bị cáo C từ 13 – 16 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 190 của BLHS phạt bổ sung mỗi bị cáo 20 triệu đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng Điều 47 của BLHS buộc bị cáo C phải truy nộp số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 35 quả pháo trứng, 01 bao tải dứa;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro của bị cáo Đ, 01 xe ô tô nhãn hiệu Inova, BKS 20A – 180.65 (Kèm theo đăng ký xe ô tô) của bị cáo C;
- Trả lại cho bị cáo Đ 02 camera an ninh nhãn hiệu EZVIZ, trả lại bị cáo C 02 thẻ nhớ 32GB và 01 thẻ nhớ 64GB;
- Tạm giữ số tiền 510.000 đồng của bị cáo Đ và chiếc điện thoại di đông nhãn hiệu Oppo A54 của vị cáo C để đảm bảo việc Thi hành án cho các bị cáo.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.
Về phần xử lý vật chứng, bị cáo C có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe ô tô BKS 20A – 180.65 cho bố, mẹ bị cáo, vì đây là tài sản của bố mẹ, bị cáo chỉ là người đứng tên hộ trên giấy tờ xe.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Bà Nguyễn Thị H) vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota Inova, BKS 20A - 180.65 cho vợ chồng bà, vì đây là tài sản của vợ chồng bà, vợ chồng bà chỉ nhờ bị cáo C là con trai đứng tên hộ trên giấy tờ xe.
Qua đối đáp, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra những căn cứ, các quy định của pháp luật, xác định không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị cáo C và bà H về việc trả lại chiếc xe ô tô cho vợ chồng bà H, giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên.
Bị cáo C giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên, không có ý kiến tranh luận đối đáp gì thêm.
5
Khi được nói lời sau cùng bị cáo Lê Minh Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và phiên tòa, các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Do muốn kiếm tiền và thu lợi bất chính từ việc buôn bán hàng cấm là pháo nổ (Là những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành) nên sau khi được bị cáo Lê Minh Đ đã đặt vấn đề mua 40 quả pháo trứng, bị cáo Vũ Văn C đã đặt mua 50 quả pháo trứng qua mạng xã hội facebook. Ngày 23/01/2024, sau khi mua được số pháo nói trên, bị cáo C đã mang đi bán cho bị cáo Đ 42 quả pháo trứng có tổng khối lượng là 7,15 kg, tuy nhiên bị cáo Đ chưa kịp bán số pháo nêu trên thì bị Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Qua khám xét chỗ ở của bị cáo C còn thu giữ 02 quả pháo hoa nổ có khối lượng 72 gam. Qua giám định đều xác định toàn bộ số pháo thu giữ nêu trên của các bị cáo là pháo nổ (pháo hoa nổ).
Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi mua đi, bán lại các loại pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thu lợi bất chính nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Buôn bán hàng cấm”, với tình tiết định khung hình phạt là: “... buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
6
Điều 190 Bộ luật hình sự. Tội .. buôn bán hàng cấm.
- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ... pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;..…”.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Dó đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Đây là vụ án hình sự: “Buôn bán hàng cấm”, do các bị cáo Vũ Văn C và Lê Minh Đ thực hiện với vai trò độc lập khác nhau, trong vụ án này bị cáo C là người trực tiếp đi mua pháo về mang bán cho bị cáo Đ với mục đích cùng kiếm lời bất chính. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét lên một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội do từng bị cáo gây ra.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên các bị cáo đều hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Đ đã có thời gian phục vụ trong Quân đội, đã được Chính ủy Trung đoàn 141 tặng danh hiệu: “Chiến sĩ tiên tiến”, nên bị cáo Đ còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân các bị cáo thấy: Bị cáo Lê Minh Đ chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và đã chủ động nộp một khoản tiền để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng chưa được hưởng lợi bất chính. Ngoài ra, bị cáo đã có thời gian phục vụ trong Quân đội được tặng thưởng danh hiệu thi đua, hơn nữa bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy không cần thiết phải cách ly xã hội đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người
7
công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội và cũng để cho bị cáo thấy được sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
- Đối với bị cáo là Vũ Văn C tuy không có tiền, án tiền sự nhưng là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và xử phạt tiền về hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo nổ), nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, vì vậy cần áp dụng khoản 4 Điều 190 của BLHS phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
[5] Về số tiền bị cáo Đ đã chuyển khoản cho bị cáo C để thanh toán tiền mua pháo là 10.000.000 đồng, xét thấy đây là khoản tiền thu lợi bất chính, cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với 35 quả pháo trứng và 01 bao tải đã bị rách, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đ và chiếc xe ô tô BKS 20A - 180.65 (kèm theo đăng ký xe ô tô) thuộc quyền sở hữu của bị cáo C, xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội (Bị cáo Đ dùng điện thoại để liên lạc và chuyển khoản tiền mua bán pháo nổ, bị cáo C sử dụng xe ô tô đi mua pháo về bán lại cho bị cáo C), vì vậy, cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về số tiền 510.000 đồng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đ, chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A54 thuộc quyền sở hữu của bị cáo C, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, tuy nhiên xét thấy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho các bị cáo.
- Đối với chiếc 02 chiếc camera nhãn hiệu EZVIZ thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đ, 03 thẻ nhớ các loại thuộc quyền sở hữu của bị cáo C, xét thấy không liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo các tài sản trên.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo như đề nghị về: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Xét ý kiến của bị cáo C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H về trả lại cho bà Nguyễn Thị H chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Inova, BKS 20A – 180.65, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo C và bà H không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh
8
chiếc xe ô tô nói trên thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà H, nên không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.
Về nguồn gốc số pháo nổ bị thu giữ, do bị cáo C trao đổi mua bán qua mạng xã hội, nên không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của đối tượng đã bán pháo cho bị cáo, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án, để xử lý đối với đối tượng này.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu một khoản án phí sung quỹ Nhà nước, theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS đối với bị cáo Lê Minh Đ;
- Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Vũ Văn C;
- Điều 47 của BLHS và các Điều 106, 123, 136, 331 và Điều 333 của BLTTHS;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
2. Hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Minh Đ cho UBND xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên theo dõi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án theo bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C mỗi bị cáo 20.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền mỗi bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục THADS thành phố S là 3.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001112 ngày 07/5/2024 (Người nộp tiền là Lê Minh Đ) và biên lai thu tiền số 0001111 ngày 07/5/2024 (Người nộp tiền là Vũ Văn C);
9
mỗi bị cáo còn phải có trách nhiệm nộp tiếp số tiền là 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng).
4. Buộc bị cáo Vũ Văn C phải truy nộp số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
5. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Văn C, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 17 tháng 6 năm 2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo Vũ Văn C cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
6. Về xử lý vật chứng vụ án như sau:
6.1. Tịch thu tiêu hủy: 35 quả pháo trứng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu K1 và 01 bao tải dứa màu vàng đã bị cắt rách.
6.2. Trả lại cho các bị cáo các tài sản sau đây:
- Trả lại cho bị cáo Lê Minh Đ 02 chiếc camera an ninh nhãn hiệu EZVIZ được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu EZ1;
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn C 02 chiếc thẻ nhớ dung lượng 32 GB và 01 thẻ nhớ dung lượng 64BG được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu Cương 1;
6.3.Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu vàng, đã qua sử dụng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B2;
- 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Inova, BKS 20A - 180.65 màu bạc đã qua sử dụng, số khung RL4XW43G389222490, số máy 1TR6521020 (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 20 002304);
6.4. Tạm giữ số tiền 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng) của bị cáo Đ và chiếc điện thoại điện thoại nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh hồng, đã qua sử dụng (được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu C1) của bị cáo C, để đảm bảo việc thi hành án cho các bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền số 10345171 ngày 08/5/2024 tại Ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh N1 ngày 08/5/2024 vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
7. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước.
8. Thông báo quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Bà Nguyễn Thị H) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
11
Bản án số 50/2024/HS - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 50/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Minh Đ và Vũ Văn C phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
