Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Phước Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Tân.

Ông Nguyễn Văn Châu.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Võ Thanh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Quách Văn K, tên gọi khác: Khởi A, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn M, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1976; Anh, chị, em ruột: 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1995; Có vợ đã ly hôn và chưa có con.

- Tiền án: 02, cụ thể:

  • Vào ngày 07 tháng 02 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 03/2014/HS-ST, chưa được xóa án tích;
  • Vào ngày 16 tháng 11 năm 2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 85/2020/HS-PT, chưa được xóa án tích;

- Tiền sự: Không có.

- Nhân thân: Vào ngày 24 tháng 8 năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 14 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 15/2017/HS-ST, không tính án tích.

Bị khởi tố ngày 27 tháng 7 năm 2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 đến ngày 28 tháng 7 năm 2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc E, sinh năm 1953 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1947 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Bà Bùi Thị Ử, sinh năm 1947 (có mặt);
    Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Ông Lê Văn Ú, sinh năm 1964 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  5. Anh Lê Thành Đ, sinh năm 2005 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tô Đức M1, sinh năm 1954 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Quách Văn K đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, để có tiền tiêu xài, bị cáo K đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với các lần cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ, ngày 19/7/2023, bị cáo K đi bộ đến nhà ông Lê Văn Ú, đăng ký thường trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo K mở cửa đi vào nhà và vô phòng ngủ của ông Ú nhìn thấy điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20, màu xanh để trên đầu giường ngủ của ông Ú, bị cáo K lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên trái, bị cáo K tiếp tục đi ra nhà sau lục tìm lấy trong túi quần của ông Ú được 140.000 đồng tiền Việt Nam (một trăm bốn mươi nghìn đồng) sau khi lấy được tài sản bị cáo K đi ra khỏi nhà và khép cửa lại.

Lần thứ hai: Sau khi lấy trộm tài sản nhà ông Lê Văn Ú xong, bị cáo K tiếp tục đi đến nhà anh Lê Thành Đ, đăng ký thường trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cách nhà ông Ú khoảng 200 mét), do cửa nhà khoá bên trong nên bị cáo K không vào nhà được, thấy vậy bị cáo K quan sát xung quanh thấy có một đôi dép nam nhãn hiệu DIOR, đế bằng nhựa màu trắng đen, quai dép bằng vải có họa tiết hình chữ D, màu trắng-đen-xanh, bị cáo K lấy đôi dép rồi tẩu thoát.

Lần thứ ba: Vào khoảng hơn 00 giờ ngày 25/7/2023, bị cáo K đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thị Ngọc E, đăng ký thường trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, do cửa nhà không có khoá nên bị cáo K đột nhập vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 năm 2018, màu xanh đang sạc pin để trên loa hát nhạc trong nhà, bị cáo K bỏ điện thoại vào túi quần bên phải, rồi nhanh chóng đi ra khỏi nhà, khép cửa lại.

Lần thứ tư: Sau đó bị cáo K tiếp tục đi bộ đến nhà bà Huỳnh Thị H, đăng ký thường trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo K dùng tay mở cửa đi vào nhà nhìn thấy bà H đang ngủ trong mùng, bị cáo Khởi phát h điện thoại di động nhãn hiệu Nokia CO1 Plus, màu nâu-xám đang sạc để trên tủ ly, bị cáo K lấy điện thoại bỏ vô túi áo khoác (bên trái) của bị cáo K đang mặc rồi đi ra khỏi nhà bà H.

Lần thứ năm: Bị cáo K tiếp tục đi bộ đến nhà của ông Tô Đức M1, đăng ký thường trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, để lấy trộm tài sản nhưng khi vừa mở cửa nhà thì làm phát ra tiếng động, nên bị cáo K bỏ chạy để lại đôi dép. Sau đó bị cáo K tiếp tục đi bộ đến nhà của bà Bùi Thị Ử, đăng ký thường trú: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, lấy trộm 01 chiếc xe đạp Martin màu trắng để trong cổng rào, bị cáo K đạp xe quay lại nhà ông M1 thì bị người dân phát hiện bắt giữ và trình báo Công an xã H. Qua làm việc bị cáo Quách Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo.

- Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, kết luận như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, ram 4GB, bộ nhớ trong 64GB mua vào năm 2019 với giá 7.000.000 đồng, giá khảo sát tài sản cũ tương đương: 950.000 đồng, thành tiền 950.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C01 Plus, màu nâu xám, ram 2GB, bộ nhớ trong 16GB mua điện thoại cũ vào năm 2021 với giá 1.100.000 đồng, giá khảo sát: 1.480.000 đồng, giá trị còn lại: 45%, thành tiền: 666.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bị hư hỏng phần gỗ xe và còi xe, mua mới vào năm 2021 với giá 1.470.000 đồng, giá khảo sát 1.800.000 đồng, giá trị còn lại: 40%, thành tiền 720.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá là: 2.336.000 đồng (hai triệu ba trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

- Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, kết luận như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20, bộ nhớ trong 64GB, màu xanh, mua vào năm 2021 với giá 3.600.000 đồng, giá khảo sát tài sản cũ tương đương 1.500.000 đồng, thành tiền 1.500.000 đồng.
  • 01 (một) đôi dép nam nhãn hiệu DIOR, đế bằng nhựa màu trắng đen, vai dép bằng vải có họa hình chữ D, màu T1-Đen-Xanh, mua vào tháng 4 năm 2023 với giá 1.650.000 đồng, giá khảo sát 1.500.000 đồng, giá trị còn lại 40%, thành tiền 600.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá là: 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm ngàn đồng)

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo Quách Văn K chiếm đoạt trong các vụ trộm nêu trên là 4.576.000 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).

- Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã tạm giữ tài sản, đồ vật gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu xanh, mua vào năm 2018;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C01 Plus, màu nâu-xám;
  • 01 (một) xe đạp Martin màu trắng, bị hư hỏng phần gỗ xe và phần còi xe;
  • 01 (một) đôi dép nam, có đế bằng nhựa màu trắng đen, quai dép bằng vải có hoa văn hình chữ D, màu trắng-đen-xanh.

Sau khi làm rõ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ngọc E, bà Huỳnh Thị H, bà Bùi Thị Ử, anh Lê Thành Đ.

- Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKS-MT ngày 18 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Quách Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Quách Văn K. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Quách Văn K, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên phạt bị cáo Quách Văn K, từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc E, bà Huỳnh Thị H, bà Bùi Thị Ử, ông Lê Văn Ú, anh Lê Thành Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Văn K phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo Quách Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Trình bày tranh luận, bị cáo K thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không trình bày tự bào chữa. Bị cáo tự nguyện nộp số tiền 1.640.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng để bồi thường thiệt hại cho ông Lê Văn Ú. Lời nói sau cùng bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại bà Bùi Thị Ử không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc E, bà Huỳnh Thị H, ông Lê Văn Ú, anh Lê Thành Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Tô Đức M1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, việc vắng mặt bà Ngọc E, bà H, ông Ú, anh Đ và ông M1 không gây cản trở cho việc xét xử, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai bà Ngọc E, bà H, ông Ú, anh Đ và ông M1 nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc E, bà Huỳnh Thị H, ông Lê Văn Ú, anh Lê Thành Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Tô Đức M1.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng:

Vào ngày 19/7/2023, tại ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20 của bị hại ông Lê Văn Ú có giá trị 1.500.000 đồng và tiền Việt Nam 140.000 đồng; lấy trộm của bị hại anh Lê Thành Đ 01 (một) đôi dép nam nhãn hiệu DIOR, đế bằng nhựa màu trắng đen, vai dép bằng vải có họa hình chữ D, màu Trắng-Đen-Xanh, có giá trị 600.000 đồng.

Vào ngày 25/7/2023 tại ấp P và P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng bị cáo lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 năm 2018, màu xanh, có giá trị 950.000 đồng của bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc E; lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C01 Plus, màu nâu xám có giá trị 666.000 đồng của bị hại bà Huỳnh Thị H; lấy trộm 01 (một) chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bị hư hỏng phần gỗ xe và còi xe có giá trị 720.000 đồng của bị hại bà Bùi Thị Ử.

[4] Tại bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, kết luận như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, ram 4GB, bộ nhớ trong 64GB mua vào năm 2019 với giá 7.000.000 đồng, giá khảo sát tài sản cũ tương đương: 950.000 đồng, thành tiền 950.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C01 Plus, màu nâu xám, ram 2GB, bộ nhớ trong 16GB mua điện thoại cũ vào năm 2021 với giá 1.100.000 đồng, giá khảo sát: 1.480.000 đồng, giá trị còn lại: 45%, thành tiền: 666.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bị hư hỏng phần gỗ xe và còi xe, mua mới vào năm 2021 với giá 1.470.000 đồng, giá khảo sát 1.800.000 đồng, giá trị còn lại: 40%, thành tiền 720.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá là: 2.336.000 đồng (hai triệu ba trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

[5] Tại bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS, ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, kết luận như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y20, bộ nhớ trong 64GB, màu xanh, mua vào năm 2021 với giá 3.600.000 đồng, giá khảo sát tài sản cũ tương đương 1.500.000 đồng, thành tiền 1.500.000 đồng.
  • 01 (một) đôi dép nam nhãn hiệu DIOR, đế bằng nhựa màu trắng đen, vai dép bằng vải có họa hình chữ D, màu T1-Đen-Xanh, mua vào tháng 4 năm 2023 với giá 1.650.000 đồng, giá khảo sát 1.500.000 đồng, giá trị còn lại 40%, thành tiền 600.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá là: 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm ngàn đồng)

[6] Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo Quách Văn K chiếm đoạt trong các vụ trộm nêu trên là 4.576.000 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).

[7] Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Mặc dù các bị cáo biết tài sản của người khác, bị cáo không có quyền sở hữu nhưng bị cáo đã lợi dụng lúc sơ hở trong quá trình quản lý, trông coi tài sản để lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại với tổng giá trị là 4.576.000 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng). Bị cáo Quách Văn K đã tái phạm, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, hành vi của bị cáo Quách Văn K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo K là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[8] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 24/8/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/4/2012, không tính án tích. Bị cáo Quách Văn K có 02 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quách Văn K 02 (hai) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 19/7/2023 với tổng giá trị 2.240.000 đồng (hai triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) được tính là 01 lần phạm tội; 03 (ba) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 25/7/2023 với tổng giá trị 2.336.000 đồng (hai triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) được tính là 01 lần phạm tội; tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.576.000 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Lê Văn Ú với số tiền 1.640.000 đồng, được bị hại bà Bùi Thị Ử đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự ở địa phương. Để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và giữ gìn trật tự trị an tại địa phương thì cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy, xử phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nhưng cũng thể hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[10] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Quách Văn K đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, hiện tại bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc E, bà Huỳnh Thị H, bà Bùi Thị Ử, anh Lê Thành Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, xử lý. Bị hại ông Lê Văn Ú không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo tự nguyện nộp số tiền 1.640.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng để bồi thường thiệt hại cho ông Lê Văn Ú nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[12] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

[14] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn K (tên gọi khác: Khởi A) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Quách Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quách Văn K.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường thiệt hại số tiền 1.640.000 đồng (một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) cho bị hại ông Lê Văn Ú, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 1.640.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
  5. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Mỹ Tú;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đoàn Phước Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (sơ thẩm) - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 50/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn K (tên gọi khác: Khởi A) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Xử phạt bị cáo Quách Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger