|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/DS-PT Ngày 16-7-2024 “V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn và ông Nguyễn Quang Vũ
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2024/DSPT ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vi Đức B, sinh năm 1969
- Bị đơn: Bà Vi Thị T, sinh năm 1941
- Ông Vi Văn L, sinh năm 1961 (là con bà T)
- Bà Vi Thị M, sinh năm 1971 (là con bà T)
- Bà Vi Thị Minh N, sinh năm 1975 (là con bà T)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vi Văn L, sinh năm 1961 (là con bà T)
- Bà Vi Thị M, sinh năm 1971 (là con bà T)
- Bà Vi Thị Minh N, sinh năm 1975 (là con bà T)
- Bà Trần Thị Như H, sinh năm 1971 (là vợ ông B)
- Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (đã chết ngày 19/3/2024).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn:
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ; Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ: Khu B, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ; Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ: Khu B, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vi Thị L1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí T1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện T.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Q - Chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên & Môi trường huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn là ông Vi Đức B trình bày: Khoảng năm 1997, gia đình bố mẹ ông B (cụ Vi Văn N1 và cụ Vi Thị L2) có mua một căn nhà trên thửa đất của bà Vi Thị M1, ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất đó thuộc số thửa 164, liền kề với thửa đất số 163 của bà Vi Thị T. Khi gia đình ông B mua nhà của bà M1, thửa đất đó đã có lối đi từ đường vào nhà, gia đình ông B vẫn sử dụng lối đi đó bình thường. Năm 2002, xã Đ có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình trong khu vực. Năm 2004, gia đình ông B được chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại bản đồ làm căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khu đất của gia đình ông B có thể hiện đường đi ra đường giao thông. Do nhiều năm nay, vợ chồng ông B đi làm ăn xa nên chưa có điều kiện sử dụng đến thửa đất. Đến nay ông về muốn làm lại căn nhà để ở thì đường đi vào thửa đất đã bị gia đình bà T sử dụng xây chuồng lợn chắn dẫn đến gia đình ông không có lối đi vào nhà nên không sử dụng được. Nay ông B khởi kiện yêu cầu bà T phải tháo dỡ công trình trên xây dựng lối đi, trả lại phần diện tích đất này cho gia đình ông.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Vi Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vi Văn L, bà Vi Thị M và bà Vi Thị Minh N thống nhất trình bày: Gia đình bà T có 01 thửa đất số 163, tờ bản đồ số 10-23 diện tích 2.020m² (trong đó có 400m² đất thổ cư và 1.620m² đất vườn) tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Thửa đất này của nhà bà giáp ranh với thửa đất của hộ ông Vi Đức B. Thửa đất nhà ông B khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có lối đi hay không, gia đình bà không biết được.
Bà T, bà M và bà N được biết, trước đây, ông B vẫn đi lối giáp phần phía sau đất của anh trai ông B (là ông Q1) để vào nhà trên thửa đất số 164 nhà ông B. Nay vì sao ông B không đi lối này nữa thì gia đình bà không được biết. Qúa trình ông B xin mở lối đi, ông B có gặp gia đình bà T xin mở lại lối đi vào thửa đất, bà T có quan điểm cho ông B 02 mét chiều ngang, kéo dọc từ khu đất để ra đường giao thông của khu với điều kiện ông B phải thanh toán một phần giá trị đất cho bà T nhưng ông B không đồng ý. Nếu ông B muốn lấy đất để mở lối đi, bà T chỉ đồng ý mở rộng 02 mét, tổng diện tích hết bao nhiêu phải tính thành tiền giá đất và các tài sản trên đất sau đó thanh toán lại cho gia đình bà.
Tại phiên hòa giải ngày 07/8/2023, bà T yêu cầu ông B phải trả cho gia đình bà số tiền 10.000.000 đồng thì gia đình mới đồng ý giao lại cho ông B lối đi nhưng ông B không nhất trí.
Tại phiên tòa, bà T và bà N có quan điểm: Ông B đề nghị mở lối đi đến phần đất của ông B bằng tài sản đất của gia đình nhà bà T, gia đình bà không đồng ý vì không phải lối đi thuộc quyền sử dụng của ông B.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Vi Thị L1 - Chủ tịch UBND xã Đ (đại diện theo pháp luật của UBND xã Đ); bà Trần Thị Q - Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện T (đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T) có quan điểm trình bày thống nhất như sau:
Căn cứ vào bản đồ 299 được đo vẽ năm 1988, được các cấp có thẩm quyền phê duyệt năm 1999 thì thửa đất của hộ ông Vi Đức B thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 10-23, thửa đất này được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/02/2004. Trên tờ bản đồ số 10-23 (bản đồ 299) thì thửa đất số 164 có thể hiện lối đi ra đường giao thông, cụ thể: L3 đi ra đường giao thông của thửa đất số 164 rộng khoảng hơn 2 mét, chiều dài khoảng hơn 10 mét được thể hiện một bên giáp với đất nhà ông V, 01 bên giáp với đất nhà bà T.
Phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp ông B khởi kiện căn cứ vào tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính 299 thì vị trí thuộc thửa đất số 164, thuộc lối đi của gia đình ông B.
Đối với tất cả các thửa đất được cấp giấy lần đầu trên địa bàn xã Đ vào năm 2000 và năm 2004 thì không có hồ sơ hiện trạng thửa đất, chỉ có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân, sau đó được Hội đồng của xã xét duyệt, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cấp xã xét duyệt đủ điều kiện thì nộp về UBND huyện kiểm tra và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân.
Hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ gia đình tại thửa đất số 163 và thửa đất số 164, tờ bản đồ số 23, bản đồ địa chính 299 có sự khác biệt so với diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai số trong quá trình đo đạc và tính toán diện tích bằng thủ công và bằng máy.
Tại phiên tòa, bà Đinh Thị H1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T trình bày quan điểm: Diện tích đất của gia đình bà T đã sử dụng từ nhiều năm nay, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị HĐXX căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để chấp nhận quan điểm đề nghị của gia đình bà T.
Bà T là mẹ của liệt sĩ đồng thời là người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn tiền án phí. Đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho bà T.
Tại bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 164, 166,174, 175, 176 Bộ luật dân sự; Điều 166, 170, 203 Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vi Đức B về việc đòi lại quyền sử dụng đất bà Vi Thị T đã lấn chiếm.
Buộc bà Vi Thị T phải có nghĩa vụ tháo dỡ một phần chuồng lợn để trả lại cho ông Vi Đức B và bà Trần Thị Như H diện tích đất 52,7m² có chỉ giới 1-4-5-20-1 (tại sơ đồ kí hiệu là P3) thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 10-23 (bản đồ 299) (có sơ đồ hiện trạng kèm theo); tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Xác nhận ông Vi Đức B tự nguyện hỗ trợ tiền chi phí tháo dỡ chuồng lợn và cây cối với số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn).
- Về chi phí tố tụng: Xác nhận sự tự nguyện của ông Vi Đức B, nộp thay bà Vi Thị T chi phí tố tụng (bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản) với số tiền là 3.321.000₫ (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng chẵn). Bà Vi Thị T phải có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng còn lại là 3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn). Ông B đã nộp toàn bộ tạm ứng chi phí tố tụng là 6.321.000₫ (Sáu triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng chẵn). Buộc bà Vi Thị T phải có nghĩa vụ thanh toán trả lại cho ông B (số tiền chi phí tố tụng ông B đã nộp tạm ứng) là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng chẵn).
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Vi Thị T.
Bản án còn tuyên quyền đề nghị thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/3/2024, bà Vi Thị T có đơn kháng cáo nội dung đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Do ngày 19/3/2024, bà Vi Thị T là bị đơn chết, nên các con của bà T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng vẫn có quan điểm đề nghị xét kháng cáo của bà T. Tại phiên tòa, những thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà T và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quan điểm giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo của bà T và đề nghị ông B phải thanh toán lại giá trị 52,7m² đất tranh chấp số tiền 10.000.000 đồng cho bà T.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử văn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bác kháng cáo của bà Vi Thị T do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T gồm ông Vi Văn L, bà Vi Thị M và bà Vi Thị Minh N.
Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Vi Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà T thực hiện trong hạn luật định, đơn hợp lệ cần chấp nhận để xem xét nội dung kháng cáo của bà T.
- [2] Xét về nội dung kháng cáo của bà T cho rằng phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà thấy rằng:
- Tại phiên tòa, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Vi Thị T cũng thừa nhận trước đây trên thửa đất 164 có gia đình bố mẹ ông B có nhà ở trên đất này và sử dụng lối đi này để đi từ nhà ra đường xóm.
- Căn cứ kết quả cung cấp thông tin xác minh UBND huyện T cũng như UBND xã Đ là cơ quan quản lý đất tại địa phương cũng đều xác định: Phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 10-23, tại khu A, xã Đ, huyện T.
- Căn cứ bản đồ địa chính hiện đang lưu giữ tại xã Đ thể hiện: Đều xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Vi Đức B thì bao gồm cả lối cổng các bên đang tranh chấp.
Từ những căn cứ tại mục 2.1; 2.2 và 2.3 mục [2] đã nêu trên, có cơ sở để xác định: Phần diện tích đất tranh chấp đã đo xác định được vị trí tranh chấp thuộc phần diện tích thửa đất số 164, tờ bản đồ số 10-23 của hộ gia đình ông B1 hộ gia đình ông B sử dụng lối đi từ thửa đất ra đường để duy trì sinh hoạt của gia đình. Trong thời gian ông B đóng cửa nhà, đi làm ăn xa từ năm 2003 đến năm 2021, không có mặt tại địa phương, không sử dụng lối đi thuộc phần diện tích đất này thì bà T đã tự ý chiếm để sử dụng và xây dựng chuồng lợn;trong khi ông B không định đoạt thông qua tặng, cho, chuyển nhượng phần diện tích đất này cho bà T, nên không làm mất đi quyền sử dụng phần diện tích đất này của hộ ông B. Vì vậy, Bà T sử dụng phần diện tích đất này, khi ông B có nhu cầu sử dụng và đề nghị lấy lại thì cần phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, buộc bà T phải trả lại cho ông diện tích đất đã lấn chiếm cho ông B, như quyết định của bản án sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ngày 19 tháng 3 năm 2024, bà T chết, thì các con của bà tính gồm ông Vi Văn L, bà Vi Thị M và bà Vi Thị Minh N là người được thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T tiếp tục đề nghị giải quyết đơn kháng cáo của bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét kháng cáo của bà T. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm các con của bà T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T cũng không đưa ra được chứng cứ nào khác để chứng minh quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là của bà T. Nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bà T được. Cần phải bác kháng cáo của bà T, giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, nhưng do bà Vi Thị T chết nên cần buộc những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Vi Thị T là ông Vi Văn L, bà Vi Thị M và bà Vi Thị Minh N phải trả lại quyền sử dụng đất đã lấn chiếm cho ông Vi Văn B2 và vợ là bà Trần Thị Như H như bản án sơ thẩm đã quyết định.
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Căn cứ khoản khoản 1 Điều 74, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Vi Thị T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 164, 166,174, 175, 176 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 166, 170, 203 của Luật đất đai;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- [2] Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vi Đức B.
- Buộc người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Vi Thị T là ông Vi Văn L, bà Vi Thị M và bà Vi Thị Minh N phải có nghĩa vụ tháo dỡ một phần chuồng lợn xây trên diện tích đất 52,7m² đất tranh chấp để trả lại cho vợ chồng ông Vi Đức B và bà Trần Thị Như H, có chỉ giới 1-4-5-20-1 (tại sơ đồ đo hiện trạng kí hiệu là P3 kèm theo) thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 10-23 (bản đồ 299); tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Xác nhận sự tự nguyện của ông Vi Đức B hỗ trợ tiền chi phí tháo dỡ chuồng lợn và cây cối trên phần diện tích đất 52,7m² số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn).
- [3] Về chi phí tố tụng: Xác nhận sự tự nguyện của ông Vi Đức B, nộp thay bà Vi Thị T chi phí tố tụng (bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản) với số tiền là 3.321.000đ (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng chẵn). Bà Vi Thị T phải có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng còn lại là 3.000.000đ (Ba triệu đồng chẵn). Ông B đã nộp toàn bộ tạm ứng chi phí tố tụng là 6.321.000₫ (Sáu triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng chẵn). Buộc bà Vi Thị T phải có nghĩa vụ thanh toán trả lại cho ông B (số tiền chi phí tố tụng ông B đã nộp tạm ứng) là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng chẵn).
- [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Vi Thị T
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Vi Thị T gồm ông Vi Văn L, chị Vi Thị M, chị Vi Thị Minh N.
- [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.
Khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên đương sự nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 50/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 50/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Đức B - Vi Thị T - Tranh chấp quyền sử dụng đất
