Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK SONG

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST

Ngày 16/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thu Uyểnbà Võ Thị Thanh Huệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu, là Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Đạt, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1976 tại tỉnh : Nam Định; Trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không ổn định; Con ông Phạm Văn H1 và bà Trần Thị S (đều đã chết); Vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1979 và có 02 con, (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền sự: Không; Tiền án: (02 tiền án): Ngày 09/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2015/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 06/8/2018, chưa được xóa án tích); Ngày 24/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 29/6/2022, chưa được xóa án tích); Nhân thân: Tại bản án số 32/2008/HSST ngày 15/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024, hiện đang bị tam giam – Có mặt tại phiên tòa.

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Cao V, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, Thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 30 tháng 3 năm 2024, Phạm Văn H đi xe khách từ huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để dự đám tân gia nhà bạn của H tên là T ở khu vực gần ngã 6, thành phố B. Tại đây H làm quen với một người đàn ông tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch), H hỏi Q có biết ai bán ma túy heroin không, giới thiệu cho H để mua 500.000 đồng thì Q đồng ý và gọi điện thoại cho người đàn ông tên D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy heroin cho H. Sau đó Q nói với H ra đứng ở khu vực ngay ngã sáu thành phố B đợi thì D sẽ tới để giao dịch mua bán Hêrôin.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, H đi bộ từ nhà bạn ra khu vực ngã 6 thành phố B thì thấy người đàn ông tên D đi xe mô tô kiểu dáng sirius (không rõ biển số xe) đang đứng đợi sẵn. H đưa cho D số tiền 500.000 đồng, D chỉ cho H biết ma túy Hêrôin D để giấu sẵn trong gói thuốc lá War Horse trên lề đường cách vị trí của H, D đứng khoảng 04 – 05m, H đi lại nhặt gói thuốc lá mở ra thì thấy bên trong có một túi nilon ziper hình chữ nhật màu trong suốt, bên trong túi nilon có chất bột màu trắng là ma túy Hêrôin nên H cất giấu vào trong túi quần mình rồi quay lại đám tân gia. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS 50H3 – 0726 đi đến xã Đ, huyện Đ, thì bị tổ công tác Công an xã Đ kiểm tra và bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 166/KL-K-THS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong gói Ziper được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy loại Hêrôin, có khối lượng là 0,2519 gam.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-ĐS ngày 26 tháng 6 năm 2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 0,2232 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 50H3 – 0726. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe của ông Đặng Cao V cho bị cáo mượn để đi lại. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định trả lại cho ông Đặng Cao V là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/3/2024, tại bon Bu N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, Phạm Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2519 gam ma túy Heroin để sử dụng thì bị Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 30/3/2024 bị cáo chưa được xóa án tích và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    o) Tái phạm nguy hiểm.”

  3. Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất ma túy. Đây cũng là nguyên nhân, tiền đề gây ra các tội phạm khác hoặc làm giảm sút kinh tế gia đình và tác động xấu đến xã hội. Mặc dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
  4. Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
  5. Trong vụ án này, đối với đối tượng tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người giới thiệu cho bị cáo H để mua ma tuý và đối tượng D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

    Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn H, Công an huyện Đ đã ra Quyết định số 03/QĐ-XPHS ngày 13/6/2023 xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng là phù hợp.

  6. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ đối với 0,2232 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định.

    Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 50H3 – 0726. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Đặng Cao V cho H mượn để đi lại. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho ông V là có căn cứ cần chấp nhận.

  7. Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
  8. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
  10. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.

* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Đối với 0,2232 gam ma túy Heroin còn lại sau giám định.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS: 50H3-0726 cho ông Đặng Cao V.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án niêm yết hoặc tống đạt bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV C.A tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Song;
  • - THADS huyện Đắk Song;
  • - CA huyện Đắk Song (Đội điều tra);
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HOAI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger