Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN LỨC

TỈNH LONG AN

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 7- 2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa Phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quốc Lệ
  2. Ông Vũ Văn Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt).

Bị đơn: Bà Đỗ Th, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp 6, xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (vắng mặt, không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 24/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn T trình bày:

Năm 2020, ông và bà Đỗ Th tự quen biết nhau, sau đó phát sinh tình cảm nên tiến tới xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 12/01/2021. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng và tin tưởng nhau. Do đó, dẫn đến vợ chồng ông đã ly thân từ khoảng tháng 3 năm 2023, bà Th dẫn con về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Thời gian ly thân, ông cũng có đến thăm con nhưng không hàn gắn tình cảm vợ chồng được.

Hiện nay, ông xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng khắc phục được. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Ông yêu cầu giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đỗ Th.

Về nuôi con chung: Ông xác định ông bà có một con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên H, sinh ngày 13/7/2021. Hiện nay, con chung đang sống với bà Th, khi ly hôn ông có nguyện vọng giữ nguyên sự ổn định này nên đề nghị giao cho bà Th tiếp tục nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Ông T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.

Đồng thời, ông xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và do bận công việc cá nhân nên ông đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông.

Về phía bị đơn bà Đỗ Th: Bà Th vắng mặt, không cung cấp cho Tòa án ý kiến trình bày cũng như tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án: Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Th vắng mặt. Cho nên, Tòa án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản không hòa giải được. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa: Ông T vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt, riêng bà Th đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về pháp luật tố tụng

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Th; căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp ly hôn” theo thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

[1.2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Ông Nguyễn T có yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với bà Đỗ Th, xác định ông T là nguyên đơn, bà Th là bị đơn theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo căn cứ tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về pháp luật nội dung

[2.1] Tòa án đã tiến hành tống đạt cho bị đơn tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như toàn bộ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Tòa án không nhận được bất kỳ tài liệu chứng cứ hay ý kiến của bị đơn nên được xem đã tự từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu mà nguyên đơn khởi kiện. Ngoài ra, bị đơn cũng không có yêu cầu khởi kiện phản tố gửi cho Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân:

Theo hồ sơ thể hiện, ông Nguyễn T và bà Đỗ Th đã xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Khánh Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 12/01/2021 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo ông T trình bày chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã. Đặt biệt, mâu thuẫn đã trầm trọng hơn từ khoảng tháng 3 năm 2023, dẫn đến vợ chồng phải ly thân, bà Th dẫn con về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, thời gian này thì ông cũng có tới lui thăm con nhưng vợ chồng vẫn không hàn gắn tình cảm được. Theo lời trình bày của ông T thì có căn cứ cho thấy hiện nay ông bà đã sống ly thân, bản thân ông T vẫn kiên quyết ly hôn nên xác định ông cũng không còn tình cảm với bà Th, mâu thuẫn không khắc phục được.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt cho bà Th các văn bản tố tụng cũng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để bà Th biết và thực hiện quyền của mình. Tuy nhiên, bà Th vắng mặt và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho thấy bà Th hoàn toàn không thể hiện thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những nhận định trên, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Tuấn Anh.

[2.3] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ tài liệu do nguyên đơn cung cấp, sự xác định của nguyên đơn thể hiện vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên H, sinh ngày 13/7/2021. Hiện nay, con chung đang sống với bà Th, khi ly hôn ông T mong muốn giữ nguyên sự ổn định này nên đề nghị giao con chung cho bà Th. Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì về yêu cầu này của ông T nên có căn cứ chấp nhận theo yêu cầu của ông T về giao con chung cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, ông T đề nghị không cấp dưỡng, bà Th không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp các bên tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác về việc tranh chấp thay đổi nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

[2.4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Ông T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn vắng mặt, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn T về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với bà Đỗ Th.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn T được ly hôn với bà Đỗ Th.
    2. Về nuôi con chung:
      1. Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên H, sinh ngày 13/7/2021 cho bà Đỗ Th được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
      2. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, Toà án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
      3. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khẩu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông Nguyễn T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007075 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An; ông Nguyễn T đã nộp xong án phí.
  3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Án xét xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  4. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Bến Lức;
  • - CC.THADS huyện Bến Lức;
  • - UBND xã H,
  • huyện Đ, tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Thái Thị Thanh Thúy

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A "Ly hôn" Đỗ Thị Th Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger