| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ PHAN THIẾT | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024.
(V/v: Ly hôn).
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Đỗ Văn Hòa.
- 2/ Bà Lưu Thị Thôi.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T1 – sinh năm 1997
Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Đỗ Nguyên S – sinh năm 1985
Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Hiện đang chấp hành án tại Đội 27 phân trại 2, trại giam H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại nội dung đơn kiện, bản khai nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Nguyên S tự tìm hiểu, quen biết nhau, chung sống vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 02/6/2020. Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng chung sống tại gia đình vợ tại xã H, huyện H và hạnh phúc được khoảng một năm. Sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng. Dù bà đã cố gắng hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ đầu năm 2021 cho đến nay, ông S bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ đó vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Nay bà T1 xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông S.
- Về con chung: Bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà T1 trình bày: Bà vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà T1 xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và đã tự sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà T1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
Bị đơn ông Đỗ Nguyên S trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông S có đơn xin vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ hòa giải và xét xử nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải được. Ông Đỗ Nguyên S đã có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 27/6/2024.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau :
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Lê Thị Mỹ T1 và ông Đỗ Nguyên S là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 02/6/2020. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 01 năm đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, do không cùng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên toà bà T1 khai ông bà đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2021 cho đến nay, mạnh ai nấy sống. Tòa án cũng tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông S không có ý kiến gì và có đơn xin vắng mặt tại buổi hòa giải như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 57 Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà T1 được ly hôn ông S.
Về con chung: Bà khai không có con chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên VKS không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát thành phố P, hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Lê Thị Mỹ T1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Bị đơn là ông Đỗ Nguyên S hiện cư trú tại phường T, thành phố P. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng ông Đỗ Nguyên S có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Lê Thị Mỹ T1 và ông Đỗ Nguyên S là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 09/6/2020. Quá trình giải quyết vụ án, bà thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng hạnh phúc khoảng 01 năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tôn trọng nhau, thường xuyên cải vã. Từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống. Ông S cũng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà T1. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T1 được ly hôn với ông Đỗ Nguyên S.
[2.2] Về con chung: bà T1 khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông S không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông S không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Xét đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T1 được ly hôn ông Đỗ Nguyên S.
- Về con chung: bà T1 khai không có con chung, ông S không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
- Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ T1 phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngày 22/5/2024, bà T1 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số 0001771, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà T1 đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, đối với bà Lê Thị Mỹ T1 kể từ ngày tuyên án (15/7/2024), đối với ông Đỗ Nguyên S kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận : - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết; - Toà án tỉnh Bình Thuận; - UBND phường Thanh Hải, tp. Phan Thiết, BT; - Chi cục Thi hành án dân sự tp. Phan Thiết; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Thái |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trinh yêu cầu ly hôn ông Sơn
