Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 51/2024/DS-ST

Ngày 15 tháng 5 năm 2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
  2. Bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Thế H, sinh năm 1991; địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang;

Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Bùi Quốc N, sinh năm 1981; địa chỉ; số D, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền số 41 ngày 02/4/2024); có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1995; địa chỉ: khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết ông Bùi Quốc N đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, ngày 05/01/2023, ông Phan Thế H có cho ông Nguyễn Hoàng S vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3%/ tháng, thời hạn trả 01 năm, ông S đã đóng lãi được 03 tháng là 9.000.000 đồng. Sau đó, đóng lãi dần được 4.500.000 đồng thì ngưng, đến tháng 02/2024 trả lãi thêm được 1.300.000 đồng, tổng cộng số tiền lãi đã đóng là 14.800.000 đồng. Khi vay ông S thế chấp cho ông H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S. Nay ông Phan Thế H yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S trả số tiền 100.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 05/01/2023 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm, ông H đồng ý khấu trừ lại số tiền lãi 14.800.000 đồng mà ông S đã đóng; yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên; ông H đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông S đã thế chấp cho ông H.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy vay tiền ngày 05/01/2023; Bản sao giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng S trình bày, thống nhất với lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, vào ngày 05/01/2023, ông có vay của ông H số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3%/ tháng, thời hạn trả 01 năm. Sau đó ông có đóng lãi được 14.800.000 đồng như trình bày của nguyên đơn. Khi vay, ông S có giao cho ông H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S. Nay ông Phan Thế H khởi kiện yêu cầu ông trả số tiền 100.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 05/01/2023 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm thì ông có ý kiến như sau: Ông S đồng ý trả cho ông H số tiền 100.000.000₫ nhưng xin nguyên đơn cho trả dần hàng tháng là 3.000.000đ cho đến khi dứt nợ. Đối với số tiền lãi 14.800.000 đồng đã đóng cho ông H, ông đồng ý khấu trừ vào tiền lãi đã tính theo quy định pháp luật; đồng thời xin nguyên đơn chỉ lãi từ ngày 05/01/2023 đến 05/01/2024, để tạo điều kiện cho ông trả nợ.

Khi vay thì ông có đưa cho ông H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S. Đối với việc ông H đồng ý trả lại giấy đất cho ông và yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp này thì ông đồng ý và không có ý kiến.

* Tại phiên tòa sơ thẩm,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông HBùi Quốc N trình bày: vẫn giữ nguyễn yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S trả cho ông Phan Thế H số tiền 100.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 05/01/2023 cho đến khi xét xử; đối với tiền lãi đã nhận 14.800.000đ ông H đồng ý khấu trừ vào tiền lãi đã tính theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng S trình bày: Ông S đồng ý trả cho ông H số tiền 100.000.000đ; đối với số tiền lãi 14.800.000 đồng đã đóng cho ông H, ông đồng ý khấu trừ vào tiền lãi đã được tính theo quy định pháp luật nhưng xin nguyên đơn cho ông được trả dần hàng tháng là 3.000.000đ cho đến khi dứt nợ. Đồng thời xin tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 05/01/2023 đến 05/01/2024.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Ngày 05/01/2023, ông ông Phan Thế H có cho ông Nguyễn Hoàng S vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn 01 năm, đã nhận lãi 14.800.000đ. Khi vay thì ông S có đưa cho ông H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S. Xét thấy, hợp đồng vay tài sản ngày 05/01/2023, giữa ông H với ông S được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Phía ông H đã giao 100.000.000đ cho ông S nhận đủ. Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông S vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc ông H khởi kiện yêu cầu trả 100.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự.

Về lãi suất, do ông S chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền quyền lợi của ông H nên ông H yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật là có căn cứ. Riêng số tiền 14.800.000đ, ông S đóng lãi trên lãi suất 3%/tháng, việc các đương sự thỏa thuận lãi suất 3%/tháng là cao hơn so với quy định pháp luật nên cần điều chỉnh theo quy định pháp luật và khấu trừ số tiền lãi 14.800.000đ.

Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan Thế H với ông Nguyễn Hoàng S, hợp đồng này các bên không thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật nên hợp đồng thế chấp này đương nhiên vô hiệu tại thời điểm ký kết; do đó cần buộc ông H giao trả cho ông S giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Ông Phan Thế H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ trả nợ theo biên nhận nợ mà ông Nguyễn Hoàng S ký; chủ thể tham gia giao dịch không có đăng ký kinh doanh nên là tranh chấp về dân sự. Đồng thời, ông Nguyễn Hoàng S (bị đơn) có nơi cư trú tại khóm T1, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về nội dung vụ án:
    1. [2.1] Ông Phan Thế H yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S trả cho ông H số tiền 100.000.000 đồng và tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 05/01/2023 cho đến ngày xét xử. Đối với bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S thì ông H đồng ý trả lại giấy đất này cho ông S.

    Xét thấy: Việc vay tài sản giữa ông H với ông S được thực hiện trên cơ sở tự nguyện thể hiện qua biên nhận nợ ngày 05/01/2023; nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015; trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hoàng S không trả nợ cho ông H theo thỏa thuận nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Hoàng S thừa nhận còn nợ ông H số tiền là 100.000.000đ, sự thừa nhận của bị đơn được xem là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó ông H khởi kiện yêu cầu ông S trả 100.000.000₫ là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối với việc ông S xin trả dần mỗi tháng 3.000.000đ không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở để xem xét, nếu ông S có khó khăn thì có thể thỏa thuận với ông H trong giai đoạn thi hành án.

    Về lãi suất vay và thời hạn vay: Theo giấy vay tiền ngày 05/01/2023 hai bên có thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng; nguyên đơn và bị đơn thống nhất ông H có đóng lãi được 14.800.000đ, số tiền lãi này các đương sự đồng ý khấu trừ vào tiền lãi được tính theo quy định pháp luật. Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác, nguyên đơn ông H yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày làm biên nhận nợ cho đến ngày xét xử. Xét thấy, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật và đồng ý khấu trừ phần lãi suất nhận cao hơn so với lãi suất mà pháp luật quy định là sự tự nguyện của nguyên đơn và được phía bị đơn đồng ý nên được xem xét chấp nhận.

    Mức lãi suất được áp dụng tại thời điểm xét xử là 1,67%/tháng được tính sau từ ngày 05/01/2023 (làm biên nhận nợ) đến ngày xét xử là ngày 15/5/2024 là 16 tháng 10 ngày. Do ông H đã nhận 03 tháng tiền lãi nên trừ lại còn lại 13 tháng 10 ngày:

    100.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 13 tháng 10 ngày = 22.266.000₫ (đã làm tròn).

    Phần tiền lãi mà ông H đã nhận 03 tháng với lãi suất 3%/tháng là 14.800.000đ; trong khi lãi suất 03 tháng theo quy định pháp luật là: 100.000.000₫ x 1.67%/tháng x 03 tháng = 5.010.000đ.

    Vậy số tiền ông S đóng lãi vượt là: 14.800.000₫ - 5.010.000₫ = 9.790.000đ. Số tiền này sẽ được trừ vào gốc như sau: 100.000.000₫ - 9.790.000₫ = 90.210.000đ (chín mươi triệu hai trăm mười ghìn đồng).

    Như vậy, số tiền nợ vốn và tiền lãi mà ông S có nghĩa vụ trả cho ông H là: Tiền vốn: 90.210.000đ + Tiền lãi: 22.266.000₫ = 112.476.000₫.

    1. [2.2] Đối với hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S. Tuy nhiên hợp đồng này không thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật nên hợp đồng thế chấp này đương nhiên vô hiệu nên cần buộc ông H giao trả cho ông S giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
    2. [3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
    3. [4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, 323, 463, 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thế H đối với ông Nguyễn Hoàng S.
  2. Buộc ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ trả cho ông Phan Thế H số tiền 112.476.000 đồng (một trăm mười hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. [2] Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan Thế H với ông Nguyễn Hoàng S vô hiệu. Ông Phan Thế H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Hoàng S: 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04158, thửa số 554, tờ bản đồ số 54, diện tích 739m² do Sở T cấp cho ngày 07/11/2019 cho ông Nguyễn Hoàng S.
  4. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 5.623.000 đồng (năm triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng).
  5. Ông Phan Thế H được nhận lại 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015342 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

  6. [4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 51/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Phan Thế H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S trả cho ông số tiền 105.000.000đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger