Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

THÀNH PHỐ H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS - ST

Ngày: 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Trần Văn Vinh
2. Ông Hoàng Văn Long
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội
Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/HS- ST ngày 15/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST - HS ngày 01/4/2024 đối với bị cáo:

Hoàng văn T, sinh năm 1990; HKTT: Thôn S, xã T, huyện T, H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Xuân L và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Ngày 30/9/2013 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - đã xóa án tích; Ngày 30/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản - chưa được xóa án tích; Ngày 20/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt 18 tháng tù tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - chưa được xóa án tích (danh chỉ bản số 692 do Công an huyện T lập ngày 29/12/2023); Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 26/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H – có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy và muốn bán ma túy kiếm lời nên Hoàng Văn T1 đã đi đến khu vực cầu T, xã T, huyện T, H mua 01 túi ma túy loại heroine và 01 túi ma túy đá của một người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000đồng. T1 mang số ma túy mua được về nhà dùng dao lam chia số ma túy heroine thành 21 gói nhỏ và lấy 01 gói để sử dụng cho bản thân. Sáng ngày 25/12/2023, T1 đã bán 01 gói heroine cho 01 nam thanh niên không quen biết với giá 200.000đồng.

Buổi trưa cùng ngày 25/12/2023, Nguyễn Đình H1 (sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, H và Bùi Mạnh Q (sinh năm 1987; địa chỉ: xã N, huyện T, Thành phố H đến nhà T1 ở Thôn S, xã T chơi. Tại đây, T1 lấy ma túy đá và bộ tẩu hút tự tạo để cho Q và H1 sử dụng nhưng chỉ có H1 sử dụng, Q không sử dụng ma túy cùng T1 và H1. Đến 15 giờ 30 phút, tổ công tác công an xã T kiểm tra hành chính, phát hiện trong nhà T1 có T1, Q và H1 có biểu hiện sử dụng ma túy. Tại chỗ, cơ quan công an phát hiện 02 bộ tẩu hút tự chế, 01 vỏ túi nilon dính chất tinh thể màu trắng. Tại chỗ T1 và H1 khai nhận vừa sử dụng ma túy cùng với nhau còn số ma túy trong túi nilon, T1 mua về chia nhỏ bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ toàn bộ tang vật gồm 19 gói giấy nhỏ bên trong có chất tinh bột màu trắng, 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng, 02 bộ tẩu hút tự tạo, 02 lưỡi dao lam, 01 bật lửa màu đỏ và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng.

Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với T1, H1 và Q đều cho kết quả dương tính.

Tại bản Kết luận giám định số 33/KL – KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 19 gói giấy đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,890gam;

- 02 lưỡi dao lam có dính ma túy heroine;

- 01 vỏ túi nilon và 02 bộ tẩu hút tự tạo đều dính ma túy loại Methaphetamine”.

Tại cơ quan điều tra:

- Hoàng Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Đối với đối tượng mua ma túy của T1 và đối tượng bán ma túy cho T1, T1 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

- Đối với Nguyễn Đình H1, Bùi Mạnh Q không đồng phạm với T1 về hành vi mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy của H1 và Q cho kết quả dương tính nên Cơ quan công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Q và H1.

- Đối với số vật chứng đã thu giữ cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 29/CT - VKSTT ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Tuấn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Hoàng Văn T1 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng điểm q, khoản 2 điều 251; điểm h khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 14 đến 15 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đã thu giữ của bị cáo; Tịch thu sung quỹ nhà nước 200.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 25/12/2023 tại nhà ở của T1 tại Thôn S, xã T, huyện T, thành phố H, Hoàng Văn T1 đã có hành vi bán 01 gói ma túy Heroine cho một người không quen biết với giá 200.000đồng và cất giấu 19 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroine có tổng khối lượng 0,890gam với mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày 25/12/2023, cũng tại nhà ở của T1, T1 tổ chức cho Nguyễn Đình H1 sử dụng trái phép ma túy loại Methaphetamine thì bị tổ công tác Công an xã T bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo phạm tội trong khi bản án số 47/2018/HSST, ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xét xử bị cáo 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và bản án số 67/2021/HSST, ngày 20/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tình tiết tăng nặng tái phạm và chưa được xóa án tích (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2022) nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm q, khoản 2 Điều 251 và điểm h khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Bị cáo phạm 2 tội nên áp dụng nguyên tắc tổng hợp hình phạt theo quy định tại điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 2 tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải - tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 03 tiền án (01 tiền án đã xóa án tích; 02 tiền án chưa được xóa án tích).

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và điều 255 Bộ luật hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng/50.000.000đồng đến 500.000.000 đồng » . Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Số ma túy heroine, 01 túi nilon dính ma túy, 02 tẩu hút, 01 bật lửa, 02 dao lam dính ma túy heroine thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm tàng trữ và công cụ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Số tiền 200.000đồng thu giữ của bị cáo là tiền thu lời bất chính nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người mua ma túy của bị cáo, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với Nguyễn Đình H1, Bùi Mạnh Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính nên hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng: Điểm q, khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

  3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,870gam ma túy Heroine còn lại sau giám định, 01 túi nilon dính ma túy Methaphetamine, 02 lưỡi dao lam và 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 bộ tẩu hút tự tạo dính ma túy Methaphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên, Hoàng Văn T1 và cán bộ công an xã T; 01 bật lửa màu đỏ ghi chữ Thong Nhat (các vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho tang vật Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024);
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đồng đang gửi tại Tài khoản Chi cục thi hành án huyện Thanh Trì tại Kho bạc nhà nước huyện T theo ủy nhiệm chi số 62 ngày 19/3/2024 của Công an huyện T.
  4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố H;
  • - Công an huyện huyện T, Thành phố H;
  • - Cơ sở giam giữ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, Thành phố H;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, Thành phố H;
  • - Bị cáo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS - ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 50/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger