Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 14-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Vũ Huy Hùng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Phan Tuấn Anh.
  • - Thư ký phiên toà: bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn K, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 24/3/1991 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Phạm Thị H; vợ: Nguyễn Thị H1; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: anh Hà Thế T, sinh năm: 1986; địa chỉ: tổ B, khu C, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

* Người làm chứng: anh Nguyễn Văn T1, anh Trần Văn T2, anh Hoàng Văn H2 và anh Nguyễn Đức V, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn K và anh Hà Thế T đều là công nhân phân xưởng khai thác 6, Công ty cổ phần T4. Khoảng 18 giờ ngày 12/12/2023, K và anh T đang làm việc tại khu vực lò song chân, chợ 2.65, vỉa 6 của phân xưởng khai thác 6 Công ty T4 thuộc phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Theo phân công công việc, K cào than để chuẩn bị khoan nổ mìn, còn anh T và anh Nguyễn Văn T1 (cũng là công nhân công ty) kéo khoan đến vị trí K đang chuẩn bị. Khi anh T và anh T1 kéo khoan đến cách chỗ K đứng khoảng 05m thì dừng lại không kéo nữa do máy khoan nặng, K bảo anh T kéo khoan đến gần vị trí làm việc của K hơn nhưng anh T không đồng ý. K nói “anh không kéo thì em không làm” thì anh T tiến đến vị trí K đang đứng nói “mày nói cái gì” rồi đấm 01 cái vào vùng mặt K, trúng khẩu trang nhựa đang đeo nhưng không gây thương tích gì. Do đang làm mệt, môi trường trong lò nóng bức, đồng thời bức xúc vì bị anh T đấm vào mặt, lúc này K hai tay đang cầm 01 chiếc cào than (dài 1,05m, cán gỗ, một đầu có 05 nhánh vuốt nhọn bằng kim loại dài 15cm, bản rộng nhất 03cm) giơ lên vụt liên tiếp 03 nhát, trong đó 02 nhát theo hướng từ phải sang trái, 01 nhát theo hướng từ trái sang phải vào người anh T, làm anh T ngã xuống nền lò. Thấy anh T bị thương, K hô hoán và cùng một số công nhân khác đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện V1 - Thụy Điển U.

Kết quả xác định tại hiện trường thể hiện: vị trí xảy ra tại phạm vi giá đỡ 29 đến 32 lò chợ 2.65 giếng Vàng Danh, khai trường công ty. Hiện trường không còn nguyên vẹn, ánh sáng đèn pin. Độ dốc 18° đến 25°. Xung quanh có các giá đỡ nằm cạnh nhau, độ rộng 2,2m, cao cách nền 1,9m.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 164A/KLTTCT-TTPY ngày 14/3/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận: Vết thương vùng trán đỉnh trái: mẻ bản ngoài xương trán trái khoảng 01cm; không có sóng điện não bệnh lý: 05%; sẹo vùng trán đỉnh trái, kích thước nhỏ: 01%. Chấn thương hàm mặt: gãy xương hàm dưới bên trái lan vào mỏm huyệt răng 3.8 đã được phẫu thuật kết hợp xương hàm dưới bằng nẹp vít: 08%; nhổ răng 3.8: 1%; sẹo vùng góc hàm trái kích thước nhỏ: 03%. Chấn thương ngực kín: gãy xương sườn V trái, xương can không di lệch: 02%; tràn dịch, tràn khí khoang màng phổi trái đã được mở màng phổi, hút liên tục, hiện không thấy bất thường: 03%; sẹo dẫn lưu khoang màng phổi trái kích thước nhỏ: 01%. Sẹo vết thương mặt sau ngoài vai trái tạo đường hầm dưới da kích thước trung bình; vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt sau vai trái; sẹo dẫn lưu vết thương mặt sau ngoài vai trái kích thước nhỏ: 02% + 0,5% + 01%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hà Thế T theo phương pháp cộng lùi là 25%. Vết thương vùng trán đỉnh trái và vai trái do vật nhọn; các tổn thương còn lại do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Chiếc cào than (dài 1,05m, cán gỗ, một đầu có 05 nhánh vuốt nhọn bằng kim loại dài 15cm, bản rộng nhất 03cm) có thể gây ra được thương tích của anh Hà Thế T.

Tại Cáo trạng số: 479/CT-VKSUB ngày 14/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố.

Bị hại anh Hà Thế T có lời khai phù hợp với nội dung vụ án và lời khai của bị cáo. Sau khi xảy ra vụ việc, bị cáo đã bồi thường cho anh T số tiền 235.000.000 đồng, anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện, nguyên nhân phạm tội và hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”; căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 BLHS; xử phạt: Trần Văn K từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo K cho UBND xã S, thị xã Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập. Về vật chứng: Chiếc cào than (dài 1,05m, cán gỗ, một đầu có 05 nhánh vuốt nhọn bằng kim loại dài 15cm, bản rộng nhất 03cm) là tài sản của phân xưởng khai thác 6 – Công ty T4. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty nên không đề cập. Đối với anh Hà Thế T có hành vi dùng tay đấm Trần Văn K, Công an thành phố U đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập.

Bị cáo, bị hại không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại anh Hà Thế T và lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 164A/KLTTCT-TTPY và Kết luận giám định vật gây thương tích số: 164B/KLVGTT-TTPY cùng ngày 14/3/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Y, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, với vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ ngày 12/12/2023, tại khu vực lò song chân, chợ 2.65, vỉa 6 phân xưởng khai thác 6 Công ty cổ phần T4 thuộc phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, do có mâu thuẫn trong quá trình làm việc, Trần Văn K đã sử dụng 01 chiếc cào than đánh anh Hà Thế T, gây tổn thương cơ thể 25%. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: ...

  • đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

[3] Về Hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường làm việc của công nhân, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc làm việc bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm đánh, đập vào người làm cho anh T bị tổn hại 25% sức khỏe. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho bị hại 235.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy chỉ vì không kiềm chế được nóng giận trong lúc làm việc, bị cáo đã dùng cào than gây thương tích cho anh T, thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại. Xét thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời luận tội, đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[4] Về biện pháp ngăn chặn: Đối với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 84/LC-ĐKNCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 407/QĐ-ĐTTH cùng ngày 03/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U đối với bị cáo cần được hủy bỏ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại 235.000.000 đồng, bị hại đã cam kết sẽ không khiếu nại, khiếu kiện, không có ý kiến gì về phần dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên toà bị cáo, bị hại không còn ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, đề cập.

[6] Về xử lý vật chứng: đã được xử lý trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Các tình tiết khác trong vụ án: Đối với anh Hà Thế T, có hành vi dùng tay đấm bị cáo, Công an thành phố U đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Trần Văn K 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/6/2024.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

  2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 84/LC-ĐKNCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 407/QĐ-ĐTTH cùng ngày 03/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U đối với bị cáo.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp Ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQTHAHS Công an TP Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an TP Uông Bí;
  • - CCTHA DS TP. Uông Bí;
  • - Cục QLXNC-BCA;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Sông Khoai, tx. Quảng Yên;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger