|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12-8-2024 V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Bùi Quốc Kiên
- Ông: Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024
- Nguyên đơn: Chị Trần Minh N – Sinh năm: 2000
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T – Luật sư thuộc Công ty L
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung Q - Sinh năm: 1998
Địa chỉ: TDP N, phường N, tx. N, Thanh Hóa.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai chị Trần Minh N trình bày như sau: Chị và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N vào ngày 14/6/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do hai bên bất đồng quan điểm sống, sau nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống vợ chồng không có tiến triển tốt. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay, chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai sinh sống. Nay chị xác định tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung K – Sinh ngày: 12/10/2021. Từ khi sinh con, chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, mọi sinh hoạt, ăn uống, thói quen của con chị là người hiểu rõ nhất. Từ tháng 6/2023 chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ ở Đồng Nai sinh sống. Được hơn một tháng thì anh Q vào nhà chị lấy lý do thăm con và đưa con đi chơi đã bắt con quay về Thanh Hóa. Do anh Q liên tục đe dọa không cho gặp con, chị gửi đồ chơi về cho con thì vứt, không cho con chơi. Chị gọi điện video thì anh Q không cho chị nói chuyện với con. Chị gọi điện đến lớp nhờ cô giáo cho nói chuyện với con thì hôm sau anh Q không đồng ý nên cô giáo không nghe điện thoại của chị nữa. Mọi liên lạc giữa chị và con bị cắt đứt hoàn toàn. Chị ở xa không quen biết ai nên không dám một minh quay về nhà chồng để gặp con. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản và công nợ chung: Chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn như sau: Về hôn nhân giữa chị N và anh Q được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đã xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Trong thời gian chung sống cả anh Q và chị N không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc nên đề nghị HĐXX giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Giữa chị N và anh Q có một con chung cháu Nguyễn Trung K – Sinh ngày: 12/10/2021. Đến thời điểm xét xử cháu K chưa tròn 36 tháng tuổi. Thời gian đầu sống ly thân chị N là người trực tiếp nuôi con, do anh Q vào chơi và tự ý đưa cháu về ở với anh Q dẫn đến mẹ con chị không được gần nhau. Chị tìm mọi cách để liên lạc với con nhưng anh Q nghiêm cấm. Hiện tại chị đang làm việc tại Công ty S và có mức thu nhập bình quân trên tháng từ 12 đến 15 triệu đồng.
Xét theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện thực tế chị có đủ điều kiện nuôi con nên đề nghị HĐXX chấp nhận nguyện vọng giao cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng đề nghị HĐXX buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/ tháng.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những phân tích trên đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Minh N.
Về quan điểm của anh Nguyễn Trung Q: Quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần Tòa án triệu tập anh Q lên làm việc nhưng anh Q cố tình trốn tránh không lên làm việc vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai hay nguyện vọng của anh Nguyễn Trung Q được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành theo đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xử cho chị Trần Minh N được ly hôn với anh Nguyễn Trung Q. Về con chung giao cháu Trung K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Q cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Anh Q được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, anh Q phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Minh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Trung Q là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh Q cố tình trốn tránh, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bản thân. Tại phiên tòa lần thứ nhất anh Q vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh Q. Vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh Q. Chị N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, anh chị đã cố gắn hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 6/2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do anh Q cố tình trốn tránh nên Tòa án không thể làm việc được.
Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND phường N nên là vợ chồng hợp pháp. Quá trình sống có xảy ra mâu thuẫn hay xích mích gì hay không thì địa phương không nắm được do anh chị không báo cáo. Hiện tại vợ chồng chị N và anh Q sống ly thân.
Tiến hành làm việc với ông Nguyễn Trung H – bố đẻ anh Q cho biết; Chị N và anh Q kết hôn hợp pháp, qua trình chung sống không hạnh phúc, đã nhiều lần chị N bỏ đi, hai vợ chồng sống ly thân từ lâu, hiện tại ông bà nội đang nuôi con của anh chị. Anh Q biết rõ việc chị N làm đơn ly hôn nhưng anh Q không đồng ý ly hôn. Mọi văn bản giấy tờ Tòa án giao ông đều giao lại cho anh Q.
Qua xác minh tại địa phương, làm việc với bố đẻ anh Q HĐXX xét thấy cuộc sống vợ chồng của anh chị không hạnh phúc, hiện tại chị N và anh Q đang sông ly thân điều này chứng tỏ đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị N được ly hôn với anh Q.
[3] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trung K – Sinh ngày: 12/10/2021. Theo như lời khai của chị thì từ khi vợ chồng sống ly thân vào tháng 6/2023 chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ ở Đồng Nai sinh sống. Được hơn một tháng thì anh Q vào nha chị lấy lý do thăm con và đưa con đi chơi đã bắt con quay về Thanh Hóa. Sau đó chị đã nhiều lần tìm cách liên lạc với con nhưng đều bị anh Q từ chối. Chị N là người ở xa, không quen biết ai nên chị không dám một mình về nhà chồng thăm con. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trung K. Quá trình chị và anh Q sống ly thân anh Q thường xuyên nhắn tin, đe dọa chị, không cho chị gặp con. Chị có cung cấp nội dung tin nhắn giữa chị và anh Q để HĐXX xem xét.
Về quan điểm, nguyện vọng của anh Q về phần con chung. Tuy anh Q không đến làm việc nhưng tiến hành làm việc với ông Nguyễn Trung H bố đẻ anh Q thì nguyện vọng của anh Q và gia đình muốn được nuôi cháu K.
Xét điều kiện thực tế cả anh Q và chị N đều có khả năng nuôi con và đều có nguyện vọng nuôi con. Quá trình sống ly thân chị N không được nuôi và thăm gặp cháu K không phải do ý muốn của chị N mà do anh Q không cho chị có điều kiện gặp con. Xét về mặt pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên HĐXX quyết định giao cháu Nguyễn Trung K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.500.000 đồng/tháng. Xét nguyện vọng của chị N là chính đáng vì vậy HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị N số tiền 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K trưởng thành và có khả năng lao động.
Anh Q được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Q lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Q.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Anh Q phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 51, 56; Khoản 3 Điều 81, Điều 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Minh N
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Minh N được ly hôn với anh Nguyễn Trung Q.
-
Về con chung: Chị N và anh Q có 01 con chung cháu Nguyễn Trung K – Sinh ngày: 12/10/2021. Giao cháu Trung K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về mức cấp dưỡng: Anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N số tiền 1.500.000 đồng/tháng thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 7/2024 đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động.
- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Anh Q được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Q lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Q.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007172, ngày 16 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị N đã thi hành xong phần án phí. Anh Q phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị N và anh Q. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hị và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N vào ngày 14/6/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do hai bên bất đồng quan điểm sống, sau nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống vợ chồng không có tiến triển tốt. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay, chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai sinh sống. Nay chị xác định tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
