Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 12-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Dũng, ông Tòng Văn Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Vàng A C; sinh năm 1993 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014093009158; nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Bua S (Đã chết) và bà Thào Thị S1, sinh năm: 1963; bị cáo có vợ là Thào Thị S2, sinh năm 1992, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2024, chuyển tạm giam ngày 28/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan: Chị Thào Thị S2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

* Người phiên dịch cho người có quyền lợi liên quan: Anh Vàng Pó C1, sinh năm 1991; số định danh cá nhân: 014091001021; nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã P, huyện S làm việc tại khu vực bản kéo Hin, xã P phát hiện bắt quả tang Vàng A C (Sinh năm 1993, trú tại bản P, xã S, huyện S) về hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm:

  • - T trong túi quần bên phải phía trước Vàng A C đang mặc 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma tuý tổng hợp);
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát: 26F1-172.75.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, loại cảm ứng màu đen.

Ngày 20/4/2024, tại cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng do thu giữ của Vàng A C có khối lượng 0,28 gam. Lấy 02 viên khối lượng 0,19 gam ký hiệu C làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 01 viên khối lượng 0,09 gam ký hiệu C1 lưu kho vật chứng.

Kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, kết luận: "Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,28 gam, loại Methamphetamine".

Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La bị can Vàng A C khai nhận như sau:

Ngày 13/4/2024, Vàng A C đưa cháu V Lại Trụ (Con của anh trai) đến bệnh viện đa khoa huyện S để khám chữa bệnh, tại đây C đã làm quen với Vàng A T1 (Cha không rõ Tồng cư trú ở đâu), T1 rủ C sử dụng ma tuý sau đó cho C số điện thoại để liên lạc. Khoảng 09 giờ ngày 19/4/2024 khi C đang ở nhà tại bản P, xã S thì T1 gọi điện bảo khi nào xuống xã S thì tìm mua ma tuý mang đến cho T1 sử dụng cùng, do bản thân là người sử dụng ma tuý và C cũng có dự định đi đón cháu V Lại Trụ nên đã đồng ý. Sau đó C điều khiển xe mô tô đến bản Mường Ten, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua ma tuý. Khi đến bản Mường Ten Cha gặp 01 người đàn ông dân tộc Lào không quen biết hỏi và mua được của người đó 03 viên ma tuý tổng hợp được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 75.000 đồng. Cha dấu gói ma tuý vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đến xã S (Xã trung tâm của huyện S). Trên đường đi qua khu vực bản K, xã P, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã P phát hiện bắt quả tang về hành vi cất dấu 03 viên ma tuý, khối lượng 0,28 gam, loại Methamphetamine như đã nêu.

Cáo trạng số 39/CT - VKSSC ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Vàng A C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 20 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

2

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,19 gam giám định).
  • - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, loại cảm ứng màu đen.
  • - Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan chị Thào Thị S2: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát: 26F1-172.75.

Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 19/4/2024 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 0,28 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân và cho Vàng A T1 sử dụng cùng. Nay bị cáo đã nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà người có quyền lợi liên quan ý kiến: Vật chứng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26F1-172.75 là tài sản chung vợ chồng bị cáo với chị Thào Thị S2. Việc bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý chị S2 không biết, do vậy đề nghị HĐXX trả lại xe cho chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát: Tại phiên toà bị cáo khai nhận ngày 13/4/2024, bị cáo đưa cháu V Lại Trụ (Con của anh trai) đến bệnh viện đa khoa huyện S để khám chữa bệnh, tại đây bị cáo được Vàng A T1 (Mới quen) cho sử dụng ma tuý và cho số điện thoại để liên lạc. Ngày 19/4/2024 bị cáo khiển xe mô tô đến bản Mường Ten, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để mua ma tuý với mục đích mang về sử dụng cho bản thân và cho Vàng A T1 sử dụng cùng nhau. Trên đường đi đến khu vực bản K, xã P, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã P phát hiện bắt quả tang khi đang cất dấu 03 viên ma tuý, khối lượng 0,28 gam, loại Methamphetamine như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định đối với vật chứng thu giữ là 0,28 gam Methamphetamine và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C2,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
  4. Hành vi tàng trữ trái phép 0,28 gam ma tuý, loại Methamphetamine của bị cáo nhằm sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Xâm hại đến chính sức khỏe, tài sản của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho các loại tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn sử dụng sau đó là nghiện ma tuý tại địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, với mục đích trừng trị răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  5. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
    • - Tình tiết tăng nặng: Không có.
    • - Tình tiết nhân thân: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, phạm tội lần đầu.
    • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hạn chế hiểu biết pháp luật. Nên được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tài sản để thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
  7. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 0,09 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,19 gam giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, vật cấm lưu hành. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.
    • - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, loại cảm ứng màu đen, theo bị cáo khai nhận dùng liên lạc với đối tượng Vàng A T1 liên quan đến hành vi phạm tội. Cần tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước, theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26F1-172.75. Kết quả điều tra cũng như tại phiên toà xác định là tài sản chung vợ chồng bị cáo với chị Thào Thị S2. Việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma tuý chị S2 không biết, do vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên trả lại chiếc xe cho người có quyền lợi liên quan là chị Thào Thị S2.
  8. Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ và đối tượng Vàng A T1, theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông dân tộc Lào không quen biết tại khu vực bản Mường Ten, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với mục đích sử dụng cho bản thân và cho Vàng A T1 sử dụng cùng. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của các đối tượng. Do vậy cơ quan CSĐT không có cơ sở để điều tra làm rõ và bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma tuý bị phát hiện bắt giữ.
  9. Án phí: Bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo nên được án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  10. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
    • - Xử phạt bị cáo Vàng A C 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 19/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

    • - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Vàng A C - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/4/2024 tại bản Kéo Hin, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,09 gam, ký hiệu C1". Theo kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 21/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, thì 01 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,09 gam, ký hiệu C1 là ma tuý, loại Methamphetamine.
    • - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, loại cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 353487100591108, số IMEI 2: 353487100591116, bên trong lắp 01 sim số thuê bao: 0812318705, điện thoại đã cũ qua sử dụng.
    • - Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan chị C3 Thào Thị S2: 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 26F1-172.75, số khung: RLHJA3847PY201688, số máy: JA52E0522170, xe đã cũ qua sử dụng.
  5. Về án phí:
  6. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    - Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/8/2024).

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - Viện kiểm sát (02 bản);
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an huyện;
  • - THA hình sự
  • - THA dân sự huyện;
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo; Người có QLLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VPTA.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kỳ Việt

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về hình sự

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger