TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ,TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Bùi Thị Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương K - Kiểm sát viên.
Ngày 12/7/2024 tại trụ sở nhà văn hoá thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 30/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, đối với bị cáo:
- MẠC ĐỨC LONG, sinh năm 2002 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn H và bà Nguyễn Thị D; có vợ và con: chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024, đến ngày 09/5/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, đến ngày 28/5/2024 bị điều chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Trần Văn H1; anh Bùi Văn T; ông Mạc Văn H, đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mạc Đức L và Trần Văn H1 là người quen biết. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 06/5/2024, H1 mang theo một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đến gia đình L ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Tại nơi ở của gia đình L, H1 ngồi chơi tại phòng ngủ của L, H1 hỏi L: Cho anh chơi nhờ ma tuý, L đồng ý. H1 lấy ma tuý ở trong người và đưa vào coóng (bộ D1 sử dụng ma tuý) dùng bật lửa đốt, nung nóng ma tuý trong bầu coóng thuỷ tinh và tự sử dụng ma tuý. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày (ngày 06/5/2024) thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại giường ngủ của L một chai nước bằng nhựa, trên nắp chai có gắn một coóng bằng thuỷ tinh, một ống hút nhựa màu trắng, một vỏ túi nilon màu trắng kích thước 2cm x 2cm, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng; một bật lửa màu đỏ.
Tại Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 06/5/2024 của Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Hải Dương xác định: L, H1 dương tính với ma tuý, loại Methaphetamine.
Tại Kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của phòng K1, Công an tỉnh H, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định, là ma tuý loại Methaphetamine. Loại mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong bầu coóng thuỷ tinh, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định, là ma tuý loại Methaphetamine. Loại mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSHD-TH ngày 29/5/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố L về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo L phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Về hình phạt bổ sung, không áp dụng đối với bị cáo. Về vật chứng, tịch thu, tiêu hủy các mẫu vật được hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng có quan điểm giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án và được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà, nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nói trên không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo L có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo L tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo L trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 00 phút đến 21 giờ 15 phút ngày 06/5/2024, tại nơi ở của gia đình Mạc Đức L tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, L đã có hành vi cho mượn địa điểm để chứa chấp, tạo điều kiện để H1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Xét bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ các hành vi như đã nêu ở trên để H1 sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội; gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, hành vi của L đủ yếu tố cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo L là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xác định: Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo L thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bị cáo L là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như theo quy định tại khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì niêm phong vật chứng số 244/KL-KTHS của phòng K1, Công an tỉnh H; một chai nước bằng nhựa, trên nắp chai có gắn một coóng bằng thủy tinh; một ống hút nhựa màu trắng; một bật lửa gas bằng nhựa màu đỏ. Xét đây là vật, công cụ có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy, như theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Về án phí: Bị cáo L bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7]. Về các vấn đề khác trong vụ án.
[7.1]. Về nguồn gốc ma tuý và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H1 vào ngày 06/5/2024 tại nơi ở của gia đình bị cáo L: H1 khai nhận mua của người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ tại huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương tiếp tục xác minh, xử lý sau. Về hành vi sử dụng trái phép chất tuý của H1 tại nơi ở của gia đình của bị cáo L, ngày 06/5/2024 Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý và chuyển các tài liệu, chứng cứ đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương để quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định của pháp luật.
[7.2]. Đối với ông H là bố của bị cáo L là người quản lý, sử dụng nhà đất ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương mà bị cáo L chứa chấp để H1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình giải quyết vụ án, ông H không biết việc L chứa chấp để H1 sử dụng trái phép chất ma tuý, đồng thời cũng không biết hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H1. Do vậy, không có căn cứ để xử lý ông H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mạc Đức L.
1. Tuyên bố bị cáo Mạc Đức L phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mạc Đức L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì niêm phong vật chứng số 244/KL-KTHS của phòng K1, Công an tỉnh H; một chai nước bằng nhựa, trên nắp chai có gắn một coóng bằng thủy tinh; một ống hút nhựa màu trắng; một bật lửa gas bằng nhựa màu đỏ.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ghi ngày 06/6/2024.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Mạc Đức L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Mạc Văn L1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mạc Đức Long
