Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 – 5 – 2024

"V/v tranh chấp Ly hôn và nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Huy Tùng.
  2. Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Sơn Thị T, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S.
  • - Bị đơn: Ông Lâm Chí H, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp T, xã Viên B, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Sơn Thị T trình bày:

Bà Sơn Thị T với ông Lâm Chí H kết hôn với nhau vào năm 2019. Hai người đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 20/02/2019.

Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người ly thân từ đó cho đến nay.

Về con chung: Lâm Mai Ngọc T1, sinh ngày 27/3/2019. Hiện đang sống cùng bà T.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Sơn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Chí H.
  • Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lâm Chí H không có lời trình bày do vắng mặt:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 305/2023/TB-TLVA ngày 06 tháng 11 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Lâm Chí H nhưng ông H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị T. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông H, không tiến hành hòa giải được và ông H cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Lâm Chí H và bà Sơn Thị T đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông H thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Sơn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Lâm Chí H.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Sơn Thị T với ông Lâm Chí H là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Hai người ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà T yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Cháu Lâm Mai Ngọc T1, sinh này 27/3/2019. Hiện con đang sống cùng với bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Xét thấy con đang sống cùng bà T nên yêu cầu của bà T phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà T yêu cầu nên bà T phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Sơn Thị T.
  • - Về hôn nhân: Bà Sơn Thị T được quyền ly hôn với ông Lâm Chí H.
  • - Về con chung: Giao cháu Lâm Mai Ngọc T1, sinh này 27/3/2019 cho bà Sơn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Lâm Chí H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Ông Lâm Chí H không phải phải nộp án phí.
    • + Bà Sơn Thị T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002382 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà T đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THA huyện T;
  • - TAND tỉnh S (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Đ, huyện T, tỉnh S;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn với ông H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger