Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 50/2024/DS-PT

Ngày 09/7/2024

“V/v:Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Hương

Ông Ma Hồng Thắng

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Kiều Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Bà Lương Minh Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 07/9/2023 và ngày 09/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2023/TLPT-DS, ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST, ngày 05 tháng 5 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2023/QĐ-PT, ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (đã chết ngày 01/10/2020); Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn:

  • Bà Hà Thị T1, sinh năm 1972 và anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 2007; Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, bà T1 có mặt, anh T2 vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Thành T3, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn anh Nguyễn Thành T3 và anh Nguyễn Thành T2: Bà Hà Thị T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1968 (đã chết ngày 29/3/2022); Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn:

  • Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972 và anh Hoàng Ngọc T4, sinh năm 1993; Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, bà H và anh T4 có mặt.
  • Chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1991; Địa chỉ: Cụm D, phường H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị T5, anh Hoàng Ngọc T4: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị H: Bà Phạm Huyền T6 - Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4:

  • Luật sư ông Lương Thành Đ và bà Nguyễn Thanh H1 – Luật sư thuộc Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: P, Tòa H, KĐT L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, ông Đ có mặt, bà H1 vắng mặt.
  • Luật sư Lê Anh N, Công ty L4, địa chỉ: Số E, ngõ A, phố P, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Hà Thị T1, sinh năm 1972;
  • Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 2007;

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

  • Anh Nguyễn Thành T3, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Tổ F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Thành T3 và anh Nguyễn Thành T2: Bà Hà Thị T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

  • Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972;
  • Anh Hoàng Ngọc T4, sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

  • Chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Cụm D, phường H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị H: Bà Phạm Huyền T6 - Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4:

  • Luật sư ông Lương Thành Đ và bà Nguyễn Thanh H1 – Luật sư thuộc Công ty L3. Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa H, KĐT L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
  • Luật sư Lê Anh N, Công ty L4, địa chỉ: Số E, ngõ A, phố P, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

4. Người kháng cáo: Bà Hoàng Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người thừa kế quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn bà Hà Thị T1 trình bày:

Gia đình ông T được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK254227 ngày 03/7/2007 đối với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 269, địa chỉ thửa đất tại N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, diện tích 13.900m², đến tháng 02 năm 2015 ông Hoàng Văn V tự ý đến chặt phá số cây trong diện tích đất của ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số cây này ông T đã bảo vệ từ trước, ông V lấn chiếm của ông T diện tích 2.834m² đất rừng trị giá 28.340.000 đồng, số lượng cây gỗ bị ông V chặt phá 3,765m³ trị giá 2.851.800 đồng. Ông V cho rằng diện tích đất đang có tranh chấp nằm trong sổ lâm bạ của nhà ông V là không đúng, vì diện tích đất của gia đình ông T tiếp giáp với đất nhà ông Đồng Văn G và ông Hoàng Văn C, còn sổ lâm bạ của ông Hoàng Trọng M (bố đẻ ông V) có thể hiện sơ đồ vườn rừng được giao một bên giáp đất nhà ông Hoàng Hán V1, một bên giáp trường tiểu học, một bên giáp đất nhà ông Hoàng Văn N1, do vậy diện tích đất của gia đình ông M (bố đẻ ông V) được giao theo sổ lâm bạ là phù hợp với thực trạng diện tích đất đã được cấp cho bà Ma Thị C1 (vợ của ông Hoàng Văn T7 – anh trai của ông V). Vì vậy, ông yêu cầu ông V phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm và bồi thường giá trị tài sản đối với số cây mà ông V đã chặt phá là 2.851.800 đồng.

Tại bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Thị T1) trình bày:

Năm 1982 bố mẹ chồng bà là ông Nguyễn Công K và bà Hoàng Thị T8 đã được cấp sổ lâm bạ. Sổ lâm bạ được cấp diện tích đất 13.900m² tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Diện tích đất này được ông K thường xuyên tu bổ và canh tác bảo vệ, thửa đất liền kề với diện tích đất của ông Đồng Văn G, trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang và ông Hoàng Văn C, trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1993 ông K, bà T8 chết nên anh em trong gia đình họp bàn để lại cho vợ chồng bà sử dụng. Ngày 03/7/2007 gia đình bà đã được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 254227, tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 269, địa chỉ thửa đất Nà Pán, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh tuyên Quang, diện tích đất 13.900m². Quá trình sử dụng gia đình bà thường xuyên sử dụng, phát dọn và bảo vệ diện tích đất này và có trồng các cây như cây sắn, mỡ, xoan, keo, bồ đề. Đến ngày 09/02/2015 ông Hoàng Văn V đã tự ý lấy máy cưa xăng lên cắt chặt hạ cây trên đỉnh đồi vườn rừng của gia đình bà. Ông V đã chặt hạ cây trám, cây bồ đề, gỗ tạp, vợ chồng bà đã nhắc nhở nhưng vợ chồng ông V, bà H không nghe và cố tình lấn chiếm đất và hủy hoại tài sản của gia đình bà. Gia đình bà có báo UBND xã Y để giải quyết, quá trình giải quyết, xác định ông V đã lấn chiếm diện tích đất 2.834 m², khu vực 3, vị trí 1, khoảnh 269 B, lô số 4, tờ bản đồ 269 và ông V đã hủy hoại 99 cây có khối lượng 3,765m³ giá trị 2.851.800 đồng. Ngày 26/4/2019 ông V lại dùng cưa xăng cắt chặt đổ 23 cây (gồm 19 cây bồ đề có đường kính bình quân 15cm, 03 cây gỗ tạp đường kính bình quân là 18cm, 01 cây cọ 06 tuổi). Ngày 21/5/2019 ông V tiếp tục lên nhổ và chặt đứt 900 cây keo non mà gia đình bà mới trồng được 02 tháng. Ngày 06/12/2019 gia đình ông V cắt chặt 51 cây (gồm 18 cây bồ đề, có đường vanh bình quân 43cm x 12m; gỗ tạp 9 cây, có đường vanh 41cm x 8m và 05 cây cọ 06 tuổi và 19 cây keo và bồ đề trồng được 10 tháng, diện tích khoảng 300m²).

Hiện tại vợ chồng bà xác định ông V đã lấn chiếm 3.655 m² đất mà vợ chồng bà đã được cấp quyền sử dụng, yêu cầu bà H trả lại diện tích này cho gia đình bà và yêu cầu bà H (là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Hoàng Văn V) bồi thường thiệt hại 99 cây đã bị ông Hoàng Văn V chặt hạ, theo biên bản hiện trường ngày 02/3/2015 và biên bản xác minh ngày 06/3/2015, trên diện tích đất 3.655 m² tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình giải quyết bà Hà Thị T1 rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 99 cây đã bị ông Hoàng Văn V chặt hạ.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn bà Hoàng Thị H trình bày:

Ông V là con của cụ Hoàng Trọng M và mẹ là cụ Ma Thị T9 (đều đã chết năm 1994), cụ M và cụ T9 sinh được 07 người con gồm ông Hoàng Văn T7 (chết 2007), bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963, ông Hoàng Văn V, sinh năm 1968, bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1971, bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1975, bà Hoàng Thị H3, sinh năm 1980, bà Hoàng Thị N3, sinh năm 1983. Đến năm 1977 ông T7 lập gia đình với bà Ma Thị C1 và có 03 người con là cháu Hoàng Văn T10, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, cháu Hoàng Văn Q đã chết và cháu Hoàng Văn T11, sinh năm 1984. Các anh chị em trong gia đình đều xây dựng gia đình lấy vợ lấy chồng và ở riêng. Năm 1982 cụ M được Nhà nước cấp sổ lâm bạ, diện tích đất rừng được giao 10,03 ha, thuộc các lô 12, khoảnh 13; địa chỉ thửa đất: Khu N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Diện tích đất này đã được gia đình sử dụng từ trước khi được cấp sổ lâm bạ. Thời điểm trước khi cấp sổ lâm bạ và sau khi cấp sổ lâm bạ ông V vẫn sinh sống cùng với bố mẹ ông và trực tiếp canh tác, khai thác các loại cây trồng trên diện tích đó. Trước và sau khi bố mẹ ông chết, diện tích đất 10,03 ha vẫn do ông V quản lý, sử dụng vì bố mẹ ông không chia đất cho ai. Các anh, chị, em gái của ông đều lập gia đình không được chia đất.

Cùng năm 2007 có nhiều hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong tổng số diện tích 10,03 ha mà bố ông đã được cấp sổ lâm bạ gồm có:

  • Hộ ông Hoàng Văn T7 và bà Ma Thị C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 13159, diện tích 6.900 m2; hiện nay cháu Hoàng Văn T10; địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
  • Hộ ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1; địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Diện tích 13.900m². Ngoài ra còn có các hộ gia đình ông Đồng Văn G; ông Hoàng Hán V1; ông Hoàng Văn N1; ông Vi Văn V2; ông Vi Văn S; anh Hà Văn H4; ông Lương Đình K1; ông Nguyễn Văn T12 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng ông không nắm được diện tích đất cụ thể cấp cho các hộ bao nhiêu m².

Về các cạnh tiếp giáp các phía của diện tích 10,03 ha ông chỉ nhớ một phía giáp đường đi Bắc Kạn, còn các phía tiếp giáp các hộ khác thì ông không nhớ.

Đối với các diện tích đất đã cấp cho các hộ ông Hoàng Văn T7 và bà Ma Thị C1, ông Đồng Văn G, ông Hoàng Hán V1, ông Hoàng Văn N1, ông Vi Văn V2, ông Vi Văn S, anh Hà Văn H4, ông Lương Đình K1, ông Nguyễn Văn T12 nằm trong tổng số diện tích 10,03 ha đã được cấp sổ lâm bạ cho bố ông thì ông nhất trí cho những hộ gia đình trên vì bản thân ông không có sức khỏe để làm, ông Hoàng Văn T7 là anh em trong gia đình, những hộ khác đều đã trồng cây, sử dụng ổn định nên không xảy ra tranh chấp.

Đối với diện tích đất 13.900m² đã cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1 thì ông không nhất trí cho vì diện tích đất này ông đã sử dụng liên tục và đã trồng cây hiện nay đã đến tuổi khai thác.

Trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 2015 thì vợ chồng ông phát toàn bộ diện tích đất đang có tranh chấp với ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1 để trồng sắn. Năm 2015 khi phát sinh tranh chấp gia đình ông phát được diện tích đất khoảng 3.000m² trồng bồ đề trong tổng số diện tích 13.900m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1. Diện tích đất ông phát ở phần đỉnh đồi, có vị trí tiếp giáp cụ thể: Phía trên đỉnh giáp đất của ông Đồng Văn G, một cạnh tiếp giáp đất của ông Hoàng Văn C, ở cạnh dưới tiếp giáp phần đất của ông Nguyễn Văn T.

Năm 2015 quá trình phát dọn để trồng sắn, bồ đề tại phần diện tích tranh chấp khoảng 3.000m², vợ chồng ông cùng nhau chặt phát 99 cây gỗ tạp đường kính khoảng 10cm đến 30cm. Vào các ngày 26/4/2019, ngày 21/5/2019 và ngày 07/12/2019 ông có dùng máy cưa xăng cưa keo, bồ đề của vợ chồng ông T và bà T1 trồng trên diện tích đất của gia đình ông đã được cấp sổ Lâm bạ. Nay bà Hà Thị T1 yêu cầu ông trả lại diện tích đất tranh chấp khoảng 3.000 m² trong tổng số 13.900 m² đất rừng mà ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không nhất trí trả lại vì diện tích đất này vẫn nằm trong diện tích đất mà bố ông đã được cấp sổ lâm bạ, ông không lấn chiếm của ai. Ông đề nghị bà T1 chia cho vợ chồng ông một nửa diện tích là 6.500m² trong tổng số 13.900 m² diện tích nêu trên, nếu như bà T1 không nhất trí chia thì ông đề nghị bà T1 trả lại toàn bộ diện tích đất mà ông T, bà T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về phần bồi thường số cây đã chặt ông không nhất trí bồi thường vì ông phát cây trên đất của gia đình ông.

Tại bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hoàng Thị H trình bày:

Bà sinh ra và lớn lên tại thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 1990 bà H kết hôn với ông Hoàng Văn V, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Bố mẹ chồng bà sinh được 07 người con gồm ông Hoàng Văn T7, bà Hoàng Thị L, chồng bà Hoàng Văn V, bà Hoàng Thị N2, bà Hoàng Thị H2, bà Hoàng Thị H3, bà Hoàng Thị N3. Khi bà về làm dâu các anh, chị bên nhà chồng đều đã lập gia đình, chỉ còn bà H3 và bà N3 chung sống cùng gia đình bà. Bà và ông V trực tiếp chung sống cùng gia đình bố mẹ và 2 em chồng tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Từ khi về làm dâu bà và gia đình chồng được sử dụng diện tích đất vườn rừng mà bố chồng là ông Hoàng Trọng M đã được cấp sổ Lâm bạ vào năm 1982, tổng diện tích đất vườn rừng 10,03 ha; thuộc lô 12, khoảnh 13; địa chỉ thửa đất: Khu N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 1995 bố chồng Hoàng Trọng M và mẹ chồng bà Ma Thị T9 chết, từ năm 2001 đến năm 2004 bà H3 và bà N3 lập gia đình. Quá trình sử dụng đất đến năm 2004 thì phát sinh tranh chấp với ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1, nhưng do gia đình bà có sổ Lâm bạ nên vẫn sử dụng diện tích đất trên; đến năm 2007 dự án DIPR đã lấy toàn bộ phần đất rừng đã được cấp sổ Lâm bạ của bố chồng bà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T và bà T1.

Trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 2015 thì vợ chồng bà vẫn phát toàn bộ khu rừng và trồng sắn trên diện tích hiện nay đang có tranh chấp. Đến năm 2015 khi phát sinh tranh chấp với ông T, bà T1 vợ chồng bà có phát được diện tích đất khoảng 3.000m² để trồng sắn, trồng bồ đề. Diện tích đất bà phát ở phần đỉnh đồi, có vị trí tiếp giáp cụ thể: Phía trên đỉnh giáp đất của ông Đồng Văn G, một cạnh tiếp giáp đất của ông Hoàng Văn C, ở cạnh dưới tiếp giáp phần đất của ông T. Năm 2015 quá trình phát dọn để trồng sắn, bồ đề tại phần diện tích tranh chấp bà và ông V cùng nhau phát 99 cây gỗ tạp đường kính khoảng 10cm đến 30cm. Vào các ngày 26/4/2019, ngày 21/5/2019 và ngày 07/12/2019 bà nghe ông V nói lại ông V có dùng máy cưa xăng cắt cây tạp, cây cọ, keo, bồ đề của vợ chồng ông T và bà T1 trồng trên diện tích đất của gia đình bà đã được cấp sổ Lâm bạ.

Nay phía nguyên đơn yêu cầu bà trả lại diện tích đất tranh chấp khoảng 3.000m² trong tổng số 13.900 m² đất rừng mà ông T và bà T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H không nhất trí trả lại vì bố chồng bà đã được cấp sổ Lâm bạ. Bà đề nghị bà T1 chia cho vợ chồng bà một nửa diện tích 6.500m² trong tổng số 13.900 m² diện tích nêu trên, nếu như bà T1 không nhất trí chia thì bà đề nghị bà T1 trả lại toàn bộ diện tích đất mà ông T, bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về phần bồi thường số cây đã chặt bà không nhất trí bồi thường vì bà phát cây trên đất của gia đình bà và ông V.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Thành T3 trình bày: Anh là con trai của ông T và bà T1. Anh sinh ra và lớn lên tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Năm 2014 anh đi học chuyên nghiệp. Về nguồn gốc diện tích đất đang có tranh chấp: Theo anh được biết đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ anh, diện tích được cấp 13.900m2, loại đất đất rừng sản xuất, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 269, địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Phần diện tích đất này của gia đình anh giáp diện tích đất của ông Hoàng Văn C và ông Đồng Văn G và giáp đường quốc lộ 3B đi tỉnh Bắc Kạn. Về diện tích đất thì từ bé anh đã biết diện tích đất này của bố mẹ anh được ông bà nội để lại cho. Khi còn nhỏ anh có được tham gia cùng bố mẹ canh tác tại diện tích đất 13.900m² tại thôn N, xã Y, huyện C (sử dụng trồng các cây sắn, cây mỡ, cây bồ đề, cây keo). Khoảng năm 2006, 2007 gia đình anh có khai thác, thu hoạch sắn và sau đó chuyển sang trồng cây mỡ, bồ đề và keo. Sau này khai thác như nào thì anh không rõ vì anh đi học không ở nhà. Từ khi anh lớn lên và nhận thức rõ các vấn đề thì gia đình anh đã canh tác sản xuất liên tục trên diện tích đất này.

Đối với diện tích được cấp 13.900m², địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang gia đình anh không có xảy ra tranh chấp về ranh giới đối với các hộ giáp ranh.

Đối với thủ tục hòa giải tại xã do anh đi học xa nhà nên khi hòa giải tại xã anh không được tham gia. Tuy nhiên, anh không có ý kiến gì và anh đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Năm 2020 bố anh (ông Nguyễn Văn T) mất, anh và mẹ anh cùng em trai đã lập biên bản ủy quyền cho mẹ anh là bà Hà Thị T1 kế thừa tham gia quyền, nghĩa vụ tố tụng trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bố anh và ông Hoàng Văn V. Đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bố anh và ông V tại thửa đất số 04 tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang anh nhất trí theo quan điểm của mẹ anh bà Hà Thị T1.

  • Chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 (do bà Hoàng Thị H làm đại diện theo ủy quyền): Cùng trình bày ý kiến nhất trí với ý kiến của bà Hoàng Thị H, không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đây là đất của ông bà anh chị để lại cho bố anh chị là Hoàng Văn V, không phải đất của gia đình ông T.

Lời khai của người làm chứng:

  • Ông Đồng Văn G trình bày: Ông được sinh ra và lớn lên tại xã Y, huyện C, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng sản xuất, nguồn gốc đất là do gia đình ông tự khai phá, diện tích đất nhà ông phía bên phải giáp với diện tích đất rừng của ông Nguyễn Văn T, bà Hà Thị T1, phía bên trái giáp với đất của ông Hoàng Hán V1.
  • Ông Hoàng Văn C trình bày: Năm 2007 gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 8.000m2 tại thửa đất số 3, tờ bản đồ 269, tại thôn N, thôn N, xã Y, diện tích đất này trước đó được cấp sổ lâm bạ cho bố ông Hoàng Văn L1, chân lô giáp quốc lộ C C đi Bắc Kạn, một phía giáp đất ông Hoàng Văn T13, một phía giáp đất rừng sản xuất của ông Nguyễn Văn T. Thực tế diện tích đất của gia đình ông có giáp ranh với một phần diện tích đất hiện nay ông V đang trồng bồ đề.

Quá trình giải quyết tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bà Hà Thị T1 trình bày: Rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu bị đơn bồi thường số tài sản của nguyên đơn là số cây mà bị đơn đã chặt hạ trên diện tích đất đang có tranh chấp. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 3.655m² đất, trị giá 36.550.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã lấn chiếm của gia đình bà tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, đây là diện tích đất đang có tranh chấp với bị đơn, (khi có tranh chấp UBND xã lên đo đạc bằng thước dây thì diện tích là 2.834m² nhưng khi đi xem xét thẩm định tại chỗ là 3.655 m², nên bà thay đổi số diện tích theo số liệu đo đạc của cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu bị đơn trả lại số diện tích đất 3.655 m²), yêu cầu bị đơn chịu toàn bộ chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và tiền án phí theo quy định.
  • Bà Hoàng Thị H trình bày: Bà không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà không nhất trí trả lại diện tích đất đang có tranh chấp, không nhất trí nộp toàn bộ chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và tiền án phí và không có ý kiến trình bày bổ sung. Ông V chết, gia đình bà chưa thực hiện phân chia di sản của ông V, chưa thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, hiện nay bà đang là người quản lý toàn bộ di sản của ông V.
  • Anh Nguyễn Thành T3 trình bày: Nhất trí với yêu cầu của bà Hà Thị T1, yêu cầu trả lại diện tích đất đang tranh chấp 3.655m², trị giá 36.550.000 đồng và rút yêu cầu bồi thường tài sản trên đất bị chặt phá.
  • Anh Hoàng Ngọc T4, chị Hoàng Thị T5 trình bày: Nhất trí với ý kiến của bà Hoàng Thị H, không đồng ý trả lại 3.655m² đất vì đây là đất của gia đình anh chị do ông Hoàng Trọng M đã được cấp sổ lâm bạ, không nhất trí nộp toàn bộ chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và tiền án phí. Ông V chết, gia đình anh chị chưa thực hiện phân chia di sản của ông V, chưa thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, hiện nay bà H đang là người quản lý toàn bộ di sản của ông V. Đối với thủ tục hòa giải tại xã anh, chị là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng do đi làm ăn xa nhà nên khi hòa giải tại xã anh chị không được tham gia. Tuy nhiên, anh chị không có ý kiến gì và anh đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST, ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 74, 147, 271, 273, 155, 156, 157, 158, 160, 163, 165, 166, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 288, 290, 291, 615, 616 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 5, 98, 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm của nguyên đơn Nguyễn Văn T (do bà Hà Thị T1, người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3, người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Thành T2) đối với bị đơn Hoàng Văn V.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (do bà Hà Thị T1, người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3, người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Thành T2) về việc yêu cầu bị đơn ông Hoàng Văn V (Do bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Ngọc T4, chị Hoàng Thị T5 là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo ủy quyền cho chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 là bà Hoàng Thị H) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 3.655m² tại thôn N, xã Y, huyện C tỉnh Tuyên Quang.

Tuyên xử: Buộc ông Hoàng Văn V (Do bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Ngọc T4, chị Hoàng Thị T5 là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo ủy quyền cho chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 là bà Hoàng Thị H) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 3.655m² và toàn bộ tài sản gắn liền trên diện tích đất 3.655m² thuộc một phần thửa đất số 4, tờ bản đồ số 269 địa chỉ thửa đất tại N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, vị trí đất được giới hạn bởi các điểm điểm 16, 17, 18, 19, 20, 21, 3, 2, 1, 16. Phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 16, 1, 2 giáp ông Đồng Minh G1, phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 2, 3 giáp đất ông Hoàng Văn C, phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 3, 21, 20, 19, 18, 17, 16 giáp đất của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (do bà Hà Thị T1 - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T; người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3 - người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Thành T2 - người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan).

(có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 16/11/2022 kèm theo bản án).

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/5/2023, bà Hoàng Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DSST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang với lý do: Từ ngày về làm dâu, bà H đã cùng bố mẹ chồng, chồng và các em chồng của bà canh tác nhiều năm trên mảnh đất đó. Hiện tại trên mảnh đất vẫn còn một số cây mà gia đình bà đã trồng từ nhiều năm trước. Điều này được trưởng thôn Nà L2 và người dân xung quanh làm chứng trong đó có ông Hoàng Văn C - là người đã có lời khai bà gửi kèm theo đơn kháng cáo. Phần đất tranh chấp thuộc thôn N nhưng Tòa án quyết định trả cho bà T1 thuộc thôn N là không hợp lý. Bà không nhất trí trả cho nguyên đơn khoản chi phí đo đất vì bà là bên bị đơn, không có yêu cầu thuê người đi đo đất. Gia đình bà được UBND xã Y cấp “Sổ lâm bạ” vào ngày 10/3/1982, từ đó đến nay gia đình bà chưa nhận được quyết định thu hồi đất của chính quyền xã nên việc cấp sổ đỏ cho nguyên đơn mà không thông báo cho gia đình bà biết là không hợp lý. Gia đình bà canh tác mảnh đất đó từ lâu, yêu cầu cấp sổ đỏ cho gia đình bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Hà Thị T1 và anh Nguyễn Thành T3: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữa nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Bà Hoàng Thị H và người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị H là bà Phạm Huyền T6 bổ sung nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 05 ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, do Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm thủ tục tố tụng. Chị Hoàng Thị T5, anh Hoàng Ngọc T4 nhất trí ý kiến của bà H về việc huỷ bản án dân sự sơ thẩm; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4: Luật sư ông Lương Thành Đ và Luật sư Lê Anh N đề nghị HĐXX huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 05 ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, do Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm thủ tục tố tụng, không đưa Ủy ban nhân dân huyện C và Ủy ban nhân dân xã Y tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa, người kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ngày 16/5/2023, Tòa án nhận được đơn của bà Hoàng Thị H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST, ngày 05/5/2023. Đơn kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật, nên đơn kháng cáo hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp phúc thẩm đã có văn bản yêu cầu Công ty TNHH Một thành viên D; Chi Nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực C, N, L; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, cung cấp sổ Lâm bạ của ông Nguyễn Công K và bà Hoàng Thị T8; Lồng ghép giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 254227, tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1 cấp ngày 03/7/2007, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 269, địa chỉ thửa đất Nà Pán, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang với Sổ lâm bạ của ông Hoàng Trọng M cấp năm 1982, diện tích 10.03ha, thuộc lô 12, khoảnh 13, địa chỉ thửa đất tại khu N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, nhưng đều không có kết quả.

[2]. Xét nội dung kháng cáo bổ sung của bà H và người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị H là bà Phạm Huyền T6 và luật sư bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho bà H đề nghị huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 05 ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, do Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm thủ tục tố tụng. HĐXX xét thấy: Trong quá trình tiến hành tố tụng, Toà án cấp sơ thẩm từ khi thụ lý, xác minh điều tra, thu thập chứng cứ, hoà giải và xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70; 71; 72; 73; 74 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T với ông Hoàng Văn V, trong đó ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, nên không cần thiết phải đưa Ủy ban nhân dân huyện C và Ủy ban nhân dân xã Y tham gia tố tụng, do vậy yêu cầu kháng cáo bổ sung đề nghị huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm không có căn cứ.

Đối với yêu cầu kháng cáo về việc không nhất trí trả cho nguyên đơn khoản chi phí đo đất vì bà là bên bị đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được. “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Toà án chấp nhận, trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Toà án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”. Do yêu cầu của bị đơn không được Toà án chấp nhận nên bà H phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là có căn cứ.

Đối với diện tích đất tranh chấp: Năm 1982 bố mẹ của nguyên đơn là cụ Nguyễn Công K và cụ Hoàng Thị T8 đã được cấp sổ lâm bạ đối với diện tích đất 13.900m2 tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Đến ngày 03/7/2007 vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Hà Thị T1 đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 254227, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 269, diện tích đất 13.900m², địa chỉ thửa đất Nà Pán, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình sử dụng đất gia đình ông T, bà T1 đã trồng cây mỡ, bồ đề, keo, sắn và đã khai thác, thu hoạch nhiều lần, không tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề.

Đến tháng 02 năm 2015 vợ chồng Hoàng Văn V, bà Hoàng Thị H tự ý đến chặt phá số cây trồng, lấn chiếm diện tích đất 3.655m² của vợ chồng ông T, bà T1 và cho rằng diện tích đất 3.655m² là của bố mẹ bị đơn cụ Hoàng Trọng M và cụ Ma Thị T9 đã được cấp sổ lâm bạ từ năm 1982, nhưng bị đơn không có giấy tờ chứng minh về diện tích đất tranh chấp 3.655m² giữa ông T, bà T1 với ông V, bà H nằm trong diện tích đất đã cấp sổ lâm bạ cho cụ Hoàng Trọng M và cụ Ma Thị T9. Toà án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do bà Hà Thị T1, người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Đối với sổ lâm bạ mang tên ông Hoàng Trọng M được giao tổng diện tích đất vườn rừng 10,03 ha; thuộc lô 12, khoảnh 13; địa chỉ thửa đất: Khu N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, được Ủy ban nhân dân xã Y giao cho mượn đất ngày 10/3/1982 có các cạnh tiếp giáp với đất của các hộ gia đình như sau: Một cạnh tiếp giáp với đất hộ ông Hoàng Văn N1 và một cạnh tiếp giáp với đất hộ ông Hoàng Văn V3. Nhưng diện tích đất vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 13.900m² tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, ngày 03/7/2007, lại có các cạnh tiếp giáp với hộ gia đình nhà ông Đồng Văn G và ông Hoàng Văn C. Không có cạnh nào tiếp giáp với đất hộ nhà ông Hoàng Văn N1 và đất hộ ông Hoàng Văn V3 như sổ lâm bạ đứng tên ông Hoàng Trọng M. Đối với diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Ma Thị C1 (là chị dâu của ông V) diện tích 6.900 m², địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, ngày 15/7/2009, có các cạnh tiếp giáp với đất hộ nhà ông Hoàng Văn N1 và đất hộ ông Hoàng Văn V3, trùng khớp với các cạnh như sổ lâm bạ đứng tên ông Hoàng Trọng M. Từ đó có cơ sở xác định diện tích đất cấp sổ lâm bạ cho ông Hoàng Trọng M ngày 10/3/1982 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà Ma Thị C1. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Tại sổ lâm bạ mang tên ông Hoàng Trọng M được Ủy ban nhân dân xã Y giao cho mượn đất ngày 10/3/1982, tổng diện tích đất vườn rừng 10,03 ha; thuộc lô 12, khoảnh 13; địa chỉ thửa đất: Khu N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, nhưng tại thời điểm cấp sổ Lâm bạ hộ gia đình ông Hoàng Trọng M và bà Ma Thị T9 có 04 nhân khẩu lao động, sổ lâm bạ ghi tổng diện tích đất vườn rừng 10,03 ha là vượt quá định mức giao đất. Tại Quyết định số 184 – HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng và Thông tư số 46-TT/HTX ngày 13/12/1982 của Bộ L5 quy định hướng dẫn việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng theo Quyết định số 184 – HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng đều quy định: Mỗi hộ nhân dân ở các tỉnh miền núi, trung du và các vùng còn nhiều đất trống, đồi núi trọc được cấp hẳn một số diện tích từ 2.000m2 đến 2.500m² cho mỗi lao động để làm vườn rừng. Như vậy, việc cấp sổ lâm bạ cho ông Hoàng Trọng M có 04 nhân khẩu lao động với diện tích đất 10,03 ha, được quy đổi là hơn 100.000m² là trái quy định, vượt quá định mức giao đất, sau khi hộ ông M được giao đất nhưng không sử dụng đất, vợ chồng ông V, bà H cũng không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất với cấp có thẩm quyền, do vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Hoàng Thị H, người đại diện theo uỷ quyền của bà H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị H. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, như ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang như sau:

Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (do bà Hà Thị T1, người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3, người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Thành T2) đối với bị đơn Hoàng Văn V.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (do bà Hà Thị T1, người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3, người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Thành T2) về việc yêu cầu bị đơn ông Hoàng Văn V (Do bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Ngọc T4, chị Hoàng Thị T5 là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo ủy quyền cho chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 là bà Hoàng Thị H) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 3.655m² tại thôn N, xã Y, huyện C tỉnh Tuyên Quang.

Tuyên xử: Buộc ông Hoàng Văn V (Do bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Ngọc T4, chị Hoàng Thị T5 là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo ủy quyền cho chị Hoàng Thị T5 và anh Hoàng Ngọc T4 là bà Hoàng Thị H) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 3.655m² và toàn bộ tài sản gắn liền trên diện tích đất 3.655m² thuộc một phần thửa đất số 4, tờ bản đồ số 269 địa chỉ thửa đất tại N, thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, vị trí đất được giới hạn bởi các điểm điểm 16, 17, 18, 19, 20, 21, 3, 2, 1, 16. Phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 16, 1, 2 giáp ông Đồng Minh G1, phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 2, 3 giáp đất ông Hoàng Văn C, phần ranh giới đất được xác định bởi các điểm 3, 21, 20, 19, 18, 17, 16 giáp đất của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (do bà Hà Thị T1 - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T; người đại diện theo ủy quyền cho anh Nguyễn Thành T3 và anh Nguyễn Thành T2 - người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan).

(có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 16/11/2022 kèm theo bản án).

2. Về án phí: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà H đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005594 ngày 22/5/2023 do bà H nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Xác nhận bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 09/7/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 50/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger