TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 09-7-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Trang – Phó chủ tịch UB mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Xuân Trường.
Bà Nguyễn Thị Thu Phương- Bí thư huyện Đoàn Xuân Trường.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 06 năm 2024 đối với các bị cáo:
Ngô Việt N, sinh ngày 28/10/2006; nơi cư trú: Xóm G, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định.; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh Đ và bà Phạm Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2021, Công an xã T, huyện X, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi: Sử dụng pháo mà không được phép.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 03/3/2024, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
-Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Việt N: Ông Ngô Thanh Đ, sinh năm 1955; nơi cư trú: Xóm G, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo Ngô Việt N: Bà Đinh Thị Thanh T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.
Tống Văn H, sinh ngày 27/6/2005; nơi cư trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn S và bà Doãn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 09/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
Phạm Văn D, sinh ngày 28/4/2004; nơi cư trú: Xóm G, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Đặng Thị M1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
Đỗ Duy T1, sinh ngày 17/03/2007; nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh T2 và bà Trần Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/5/2024 đến nay. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Duy T1; Ông Đỗ Mạnh T2, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Duy T1; Ông Nguyễn Hoài T3 -Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Ngọc Đ1, sinh ngày 29/10/2005; nơi cư trú: xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người làm chứng:
- 1.5 Anh Ngô Văn K; vắng mặt.
- 2.5 Anh Phạm Văn H1; vắng mặt.
- 3.5 Cháu Phạm Thị Hoài T4; vắng mặt.
- 4.5 Ông Tống Văn S; sinh năm 1963; nơi cứ trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt.
- 5.5 Anh Bùi Đắc Đ2; vắng mặt.
- 6.5 Ông Ngô Xuân P; vắng mặt.
- 7.5 Ông Phạm Văn P1; vắng mặt.
- 8.5 Cháu Bùi Diệu H2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau;
Ngô Việt N, sinh ngày 28/10/2006, trú tại: xóm G, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định và Hoàng Ngọc Đ1, sinh năm 2005, trú tại xóm F, xã X là bạn nhau. Khoảng tháng 3/2023, Đ1 mượn của N số tiền 1.300.000 đồng, N đòi nhiều lần nhưng Đ1 chưa có tiền trả.
Khoảng 20 giờ ngày 02/11/2023, N và Bùi Diệu H2, sinh năm 2006, trú tại: xã T, huyện T đang ngồi uống nước ở gần nhà nghỉ G, ở xóm A, xã H, huyện H thì nhóm bạn của N đến chơi gồm: Tống Văn H, sinh năm 2005, trú tại xóm E, xã X, Phạm Văn D, sinh năm 2004, Đỗ Duy T1, sinh ngày 17/3/2007, Ngô Văn K, sinh ngày 24/4/2008; Phạm Văn H1, sinh năm 2004, cùng trú tại xã T và Phạm Thị Hoài T4, sinh năm 2008, trú tại xóm H, xã G, huyện G đến. N rủ cả nhóm lên phòng 301 nhà nghỉ 79 do N thuê uống nước. Trong lúc nói chuyện, N nói cho mọi người biết việc Hoàng Ngọc Đ1 nợ N 1.300.000 đồng từ lâu nhưng chưa trả. Do D đã gặp Đ1 từ trước và biết Đ1 có điện thoại nên nói: “Nó có điện thoại về lấy điện thoại của nó siết nợ, không bán thì để mà dùng”. Học liền gọi điện cho bố là ông Tống Văn S hỏi và biết Đ1 đang ngủ tại nhà mình nên nói với mọi người “Đô đang ở nhà em”. Một lúc sau, H1, T4 và H2 ra ngoài chơi thì N rủ H, D rủ T1 và K cùng đi về nhà H gặp Đ1 đòi số tiền đã nợ N. Tất cả đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, N khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 18F1-248.58 của K chở K, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, BKS: 18F1-447.12 chở T1, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 18F1-447 của H1 về nhà H. Trên đường về, N và D bàn bạc bảo H sẽ gọi Đ1 ra cầu để nói chuyện, nếu Đ1 có tiền trả thì N lấy tiền rồi tất cả ra về, nếu Đ1 không có tiền trả thì N giật điện thoại của Đ1 còn D, K, T1 có nhiệm vụ hỗ trợ ngăn cản Đ1, trường hợp Đ1 không ra thì H và N sẽ vào nhà tìm sơ hở lấy trộm điện thoại của Đ1. Nghe D và N bàn bạc xong, tất cả đều đồng ý. Khi về đến cầu ở đầu ngõ N, H gọi điện thoại cho bố nhờ gọi Đ1 ra cầu để nói chuyện nhưng ông S thấy Đ1 đang ngủ nên không gọi. N liền bảo cả nhóm “Tao vào lấy điện thoại của Đ1” rồi bảo H dẫn mình vào nhà H. Còn D, T1, K ngồi ngoài cầu đợi và hồ trợ nếu cần. Vào đến nhà H, thấy Đ1 đang ngủ trên giường ở phòng khách, chiếc điện thoại Iphone XS max 64GB của Đ1 để gần người. Còn ông S đang ngủ ở giường bên cạnh. Học đi vào ghế ngồi cảnh giới còn N đi tới cuối giường lén lút lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo đang mặc rồi vẫy tay ra hiệu cho H đi ra chỗ D, T1, K đang chờ. Ra đến nơi, D hỏi N: “Đã lấy được điện thoại chưa”. N nói “Lấy được điện thoại rồi”. Sau đó, cả nhóm đi đến cầu N, xã X. Trên đường đi, N biết Đ1 cài mật khẩu điện thoại bằng ngày tháng năm sinh nên mở được mật khẩu máy còn mật khẩu Icloud không mở được. N hỏi H biết chỗ nào bán điện thoại không. Học gọi điện liên hệ với Bùi Đắc Đ2, chủ cửa hàng điện thoại Điển Bùi Mobile ở xóm D, xã T hỏi “em có con Iphone XS max độ Iphone 12 nhưng bị dính I, anh có mua không?”. Đ2 bảo H mang máy đến quán cho Đ2 xem. Cả nhóm đến quán sửa điện thoại của Đ2, N đưa chiếc điện thoại Iphone XS max cho Đ2 xem. Sau khi kiểm tra, Đ2 hỏi: Sao Icloud lại mang tên Hoàng Ngọc Đ1, không đăng xuất Icloud thế? N nói “Thằng Đ1 nó nợ tiền em nên đưa máy cho em bán, anh yên tâm”. Đ2 đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 2.000.000 đồng, trả trước 1.700.000 đồng tiền mặt còn 300.000 đồng sẽ chuyển khoản nốt cho N sau khi mở được I. N đồng ý nhận tiền, sau đó cả nhóm đi đến khu vực cầu L đổ xăng, N trả tiền xăng cho 03 xe hết tổng số 150.000 đồng. Do K có việc về trước, không đi ăn cùng nên D bảo N đưa cho K 100.000 đồng vì đã đi cùng, N đồng ý, K cầm tiền đi về trước. Những người còn lại về nhà nghỉ G rồi cùng H1, T4, H2 đi ăn uống xong thuê thêm phòng tại nhà nghỉ 79 nghỉ qua đêm.
Sáng ngày 03/11/2023, Hoàng Ngọc Đ1 tỉnh dậy phát hiện bị mất điện thoại nên đã đến Công an xã X trình báo sự việc. Quá trình làm việc với các đối tượng, Công an xã X đã thu giữ được chiếc điện thoại Iphone XS Max và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện X để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá số 10/KL-HĐĐG ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện X kết luận: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS max 64GB (đã thay vỏ máy Iphone 12 Promax), màu vàng, mặt lưng bị hư hỏng, nứt vỡ, bị khóa Icloud không kiểm tra được chất lượng bên trong. Máy có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 3.500.000 đồng
Ngày 14/01/2024, Cơ quan CS ĐT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố đối với Ngô Việt N, Tống Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Trong các ngày 23/02/2024, 06/3/2024, Ngô Việt N và Tống Văn H đã ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm. Đến ngày 28/3/2024 và ngày 10/5/2024, Cơ quan CSĐT khởi tố đối với Phạm Văn D và Đỗ Duy T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Hoàng Ngọc Đ1. Hiện anh Đ1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Ngô Việt N.
Trong quá trình điều tra, Ngô Việt N và gia đình đã bồi hoàn lại cho anh Đ2 số tiền mua chiếc điện thoại. Hiện anh Đ2 không có yêu cầu đề nghị gì thêm về phần dân sự
Tại cơ quan điều tra Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D và Đỗ Duy T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm như đã nêu trên.
Cáo trạng số 49/CT-VKSXT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố hành vi của Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 91 và Điều 101Bộ luật hình sự đối với Ngô Việt N.
Xử phạt bị cáo Ngô Việt N từ 06 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Tống Văn H.
Xử phạt bị cáo Tống Văn H từ 09 - 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn D.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 09 -12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 – 24 tháng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Duy T1.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn D1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thực thách từ 12-18 tháng.
-Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo H, D1 khó khăn, bị cáo N, bị cáo T1 khi phạm tội dưới 18 tuổi, vì vậy đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Truy thu số tiền 1.500.000đ của bị cáo H do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Ngọc Đ1 cũng như anh Bùi Đắc Đ2 đã nhận lại tài sản và được bồi hoàn và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nữa là phù hợp.
Các bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát.
-Người bào chữa cho bị cáo Ngô Việt N trình bày: Bị cáo N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên khi HĐXX lượng hình phạt đối với bị cáo N xem xét cho bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi bị cáo phạm tội là người dưới 18 tuổi nhận thức còn hạn chế non lớt, vì vậy đề nghị HĐXX xem áp dụng Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để xứ lý để bị cáo được hưởng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Bị cáo Ngô Việt N trình bày: Nhất trí với lời bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.
Người đại hợp pháp của bị cáo N trình bày: Nhất trí với lời bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.
Hội đồng xét xử cho công bố lời bào chữa của luật sư cho bị cáo Đỗ Duy T1: Bị cáo T1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên khi HĐXX lượng hình phạt đối với bị cáo T1 xem xét cho bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hôi cải, mẹ bị cáo bị mắc bệnh ung thư hoàn cảnh kinh tế gia đình khó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi bị cáo phạm tội là người dưới 18 tuổi nhận thức còn hạn chế, vì vậy đề nghị HĐXX xem áp dụng Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để xứ lý bị cáo được hưởng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đề nghị HĐXX cho bị cáo T1 được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Bị cáo Đỗ Duy T1 trình bày; Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.
Người đại hợp pháp của bị cáo T1 trình bày: Nhất trí với lời bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm
Bị hai không có tranh luận gì với bản luật tội của Viện kiểm sát; đề nghị HĐX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N, còn các bị cáo khác bị hại đề nghị HĐXX căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc kết tội: Hành vi của bị cáo như đã khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 02/11/2023 tại xóm E, xã X, N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 đã có hành vi cùng nhau lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone XS max 64GB, vỏ ngoài màu vàng của Hoàng Ngọc Đ1 có giá trị là 3.500.000 đồng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Trộm cắp tài sản” của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ không chịu tu chí học hành làm ăn mà rủ nhau đi trộm cắp tài sản mục đích để có tiền tiêu sài. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sư: Trong đó bị cáo Phạm Văn D là người khởi xướng trộm cắp tài sản, bị cáo N là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại, bị cáo H đứng cảnh giới hỗ trợ, vì vậy 3 bị cáo này được xếp vai trong ngang nhau và chịu mức hình phạt như nhau. Đối với bị cáo T1 tham gia vai trò giúp sức nên chịu mức hình phạt thấp hơn các bị cáo trên.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo N đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và cho anh Đ2; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N, sau khi phạm tội bị cáo N đã ra đầu thú nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình. Đối với bị cáo H sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, đối với bị cáo H và bị cáo D đang bị tạm giam xét thấy không cần thiết tạm giam đối với hai bị cáo H, D nữa. Vì vậy HĐXX cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Ngô Việt N và bị cáo Đỗ Duy T1 khi phạm tội là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt đối với hai bị cáo này HĐXX sẽ áp dụng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo H và bị cáo D đều khó khăn cũng như bị cáo N và bị cáo T1 khi phạm tôi là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đ1 đã nhận lại tài sản, anh Đ2 đã được bồi hoàn và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nữa là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Đối với chiếc điện thoại Tống Văn H đã sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, H khai đã bán chiếc điện thoại cho một nam thanh niên không biết tên tuổi, địa chỉ ở khu vực xã L, huyện T với số tiền là 1.500.000đ, số tiền này mình bị cáo không chia cho ai và đã chi tiêu hết. Xét thấy chiếc điện bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X không thu giữ được. Vì vậy HĐXX sẽ truy thu số tiền 1.500.000₫ của bị cáo H sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 18F1-447.61; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 18F1-447.12, Cơ quan điều tra đã xác minh là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn P1 (bố của Phạm Văn H1) và ông Ngô Xuân P (bố của Ngô Văn K). Ông P1, P không biết các đối tượng mượn đi làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT nhắc nhở đối với ông P1, P là phù hợp. Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, BKS: 18F1 – 476.21, Cơ quan CSĐT xác minh là của anh Phạm Văn Q, sinh năm 2001, trú tại xóm G, xã T (anh trai của Phạm Văn D). Hiện anh Q không có mặt nơi cư trú, Cơ quan CSĐT chưa làm việc với anh Q được nên tách ra xử lý sau là phù hợp.
[11] Về hành vi của Ngô Văn K đi cùng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, nhưng xét thấy khi phạm tội K chưa đủ 16 tuổi, không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội ít nghiêm trọng nên Cơ quan CSĐT ra quyết định xử phạt hành chính đối với K là phù hợp.
[12] Trong vụ án này anh Bùi Đắc Đ2 là người đã mua chiếc điện thoại Iphone XS Max 64GB. Xét thấy, trong quá trình giao dịch anh Đ2 không biết đây là tài sản do N và đồng bọn phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT đã nhắc nhở đối với anh Đ2 là phù hợp.
[13] Đối với Phạm Văn H1, Phạm Thị Hoài T4, Bùi Diệu H2 đã cùng các bị cáo đi ăn tiêu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có, nhưng xét thấy H1, T4, H2 không biết nguồn gốc số tiền đó nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã nhắc nhở đối với H1, T4, H2 là phù hợp.
[14] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[15] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố các bị cáo Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với Ngô Việt N.
Xử phạt bị cáo Ngô Việt N từ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án; (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 23/02/2024 đến ngày 03/3/2024).
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với Tống Văn H.
Xử phạt bị cáo Tống Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án. (Bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến ngày 09/7/2024).
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên đối với bị cáo Tống Văn H đang bị tạm giam, nếu bị cáo H không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Tống Văn H cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Tống Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
4.Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Phạm Văn D.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án. (Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 09/7/2024).
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên đối với bị cáo Phạm Văn D đang bị tạm giam, nếu bị cáo D không bị tạm giam về một tội phạm khác.
5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Duy T1.
Xử phạt bị cáo Đỗ Duy T1 từ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thực thách 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Ngô Việt N, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp các bị cáo Ngô Việt N, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
6. Vể xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Truy thu số tiền 1.500.000đ của bị cáo H do phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
7. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Ngô Việt N, Tống Văn H, Phạm Văn D, Đỗ Duy T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo N, bị cáo T1, người chữa cho bị cáo N, bị cáo T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
