|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊNHUẾ Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Mai Văn Xuân.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2023; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QÐST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Minh C, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, có mặt.
Bị đơn: Ông Trương Bình P, sinh năm 1984; địa chỉ: Đ, thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Vũ Thị Minh C đều trình bày:
Bà và ông Trương Bình P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 11/9/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông P ít quan tâm đến bà, hay nghi ngờ, ghen tuông vô cớ, hay rượu chè về nhà gây gổ, đánh đập vợ con nhiều lần làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên từ tháng 12 năm 2023 thì bà đưa con gái về nhà mẹ đẻ ở tỉnh Bình Phước sinh sống, vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông P để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà C khai bà và ông P có 01 con chung là Trương Vũ Mỹ T, sinh ngày 26/9/2019, hiện đang ở với bà. Bà C có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 25/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Bình P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì bà C khai như vậy là đúng. Tuy nhiên ông vẫn còn thương bà C và mong muốn đoàn tụ vợ chồng nhưng nếu bà C vẫn cương quyết xin ly hôn thì ông đồng ý thuận tình ly hôn với bà C với điều kiện là bà C phải giao con cho ông trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về con chung: Ông P xác nhận vợ chồng ông có 01 con chung như bà C đã khai. Nếu ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Trương Vũ Mỹ T vì bản thân bà C đã có nhiều đời chồng và có nhiều con, sẽ không có đủ điều kiện để chăm sóc cho cháu T và không yêu cầu bà C phải cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại ông làm nghề thợ nề, có thu nhập mỗi tháng khoảng 12.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 4 năm 2024, ông Trương Văn Đ (là chú ruột của ông Trương Bình P)trình bày: Vợ chồng ông P bà C kết hôn vào 2018, sau khi kết hôn thì sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Bà C đã hai lần bỏ nhà đi. Đến tháng 12 năm 2022, sau khi mâu thuẫn với ông P thì bà C đem con về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Bố mẹ ông P đều đã chết, hiện ông P sống một mình. Nay bà C xin ly hôn ông P thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông P, được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, ông Trương Bình P không đồng ý ly hôn với bà C, có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Minh C.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Minh C được ly hôn ông Trương Bình P.
Về con chung: Giao cháu Trương Vũ Mỹ T, sinh ngày 26/9/2019 cho bà Vũ Thị Minh C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà C không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Do bà C, ông P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bà C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Vũ Thị Minh C khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Trương Bình P. Ông P có nơi cư trú tại: Đ, thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Bình P và bà Vũ Thị Minh C có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 17/9/2018 (số 78, năm 2018). Như vậy, hôn nhân giữa ông P và bà C là hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Minh C, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo trình bày của ông P và bà C thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn, cả ông P lẫn bà C đều xác nhận vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay là có cơ sở, phù hợp với xác minh tại Hội liên hiệp phụ nữ xã H xác nhận “ông P và bà C quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn nên bà C đã đưa con gái bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, ông P hiện đang sống một mình tại địa phương”. Như vậy, có cơ sở xác định đời sống chung hiện nay giữa ông P và bà C không tồn tại.
Xét thấy hôn nhân giữa ông P và bà C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của bà C, cho bà C được ly hôn ông P.
[2.3] Về con chung: Ông P và bà C có 01 con chung là Trương Vũ Mỹ T, sinh ngày 26/9/2019, hiện đang ở với bà C.
Xét yêu cầu của bà C và ông P về việc nuôi con sau khi ly hôn, thì thấy:
Theo quy định tại Điều 81 về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì: “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông P và bà C đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, do cháu T hiện nay còn quá nhỏ (chưa đủ 5 tuổi), trong độ tuổi cần phải có sự chăm sóc đặc biệt để nuôi dưỡng về sức khỏe, phát triển thể chất và tinh thần; hơn nữa, từ khi cháu sinh ra và đến nay đều được bà C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nên việc thay đổi môi trường sống của cháu trong độ tuổi và thời điểm này là chưa phù hợp, dễ làm tổn thương đến tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu. Do đó, căn cứ vào điều luật đã viện dẫn và điều kiện sống thực tế của cháu T, cần giao cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, dỗ dành và chăm sóc cháu T là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.
Bà C cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc ông P thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tùy vào độ tuổi, điều kiện sống, hoàn cảnh thích hợp hoặc nếu bà C vi phạm các điều kiện nuôi dưỡng con chung, thì ông C có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi quyền nuôi con.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do bà C không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông P chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà C, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.6] Về án phí: Bà C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Vũ Thị Minh C đối với ông Trương Bình P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Bà Vũ Thị Minh C được ly hôn ông Trương Bình P.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Vũ Mỹ T, sinh ngày 26/9/2019, cho bà Vũ Thị Minh C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Ông P chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C, ông P không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà C phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001542 ngày 14/12/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn
