|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày: 07 - 6 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại;
Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Đăng Thương.
- - Bà Huỳnh Thị Tuyết Nga.
- - Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN MINH M, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ G, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: nguyên là nhân viên ngân hàng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và con bà Lê Thị Q; vợ: Võ Trần Ánh T; có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q từ ngày bắt truy nã (ngày 30/9/2023) đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Minh M1: Luật sư Trịnh Văn B – Công ty L1; địa chỉ: Số D đường P, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt có lý do.
Bị hại:
- Chị Lê Thị Tuyết M2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số C đường H, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Duy T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Chị Trần Thị Thu T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số F đường N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số C đường T, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ F, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Nam Duy K, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Chị Võ Trần Ánh T, sinh năm 1991; nơi cư trú: 371/12/11 đường T, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Anh Đỗ Tấn V, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A đường H, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Hồ Thanh V1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Võ Thị Hồng H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm B, thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Sinh T3, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số C đường N, tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Chị Trần Thị Kim P, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số F đường H, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh M1 (sau đây viết tắt là: bị cáo) nguyên là nhân viên Ngân hàng H3 - Chi nhánh Q1 (tên viết tắt: O Chi nhánh Q1), đã nghỉ việc vào ngày 20/02/2022. Thông qua mối quan hệ quen biết xã hội nên từ đầu tháng 01/2022 đến ngày 10/5/2022, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối cần vay tiền để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng (tái cấp đối với các hợp đồng vay tiền) cho khách hàng để vay tiền của nhiều người. Sau khi nhận được tiền từ nhiều người cho vay, bị cáo không sử dụng vào mục đích đáo hạn Ngân hàng mà dùng tiền này để trả nợ xoay vòng cho nhiều người vì lúc này bị cáo đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ và một phần tiêu xài cá nhân; cụ thể như sau:
Đối với chị Lê Thị Tuyết M2:
Chị Lê Thị Tuyết M2 là khách hàng vay và gửi tiết kiệm tại Ngân hàng H3 - Chi nhánh Q1. Lúc đó, bị cáo là chuyên viên tín dụng tại Ngân hàng này nên quen biết chị M2. Sau khi quen biết, vào khoảng cuối năm 2020 đầu năm 2021 bị cáo thường vay mượn tiền của chị M2 để đáo hạn cho khách hàng, mua bán đất và xử lý công việc riêng, lúc đầu bị cáo đã trả tiền đủ cho chị M2. Đến khoảng tháng 02/2022, bị cáo nợ tiền nhiều người nhưng mất khả năng trả nợ, để có tiền trả nợ, bị cáo đã nói với chị M2 cho bị cáo vay tiền để làm thủ tục đáo hạn cho khách hàng, giữa bị cáo và chị M2 thỏa thuận mức lãi suất vay là 2.000đồng/1.000.000đồng/ngày và chỉ thỏa thuận miệng chứ không viết giấy tờ gì. Chị M2 đồng ý nên nhiều lần chuyển khoản và đưa tiền mặt cho bị cáo vay. Tính đến ngày 24/4/2022, bị cáo còn nợ chị M2 số tiền 2.100.000.000đồng. Đến ngày 04/5/2022, bị cáo tiếp tục vay tiền của chị M2 để làm đáo hạn cho khách hàng và chị M2 đã đồng ý rồi chuyển cho bị cáo vay số tiền 900.000.000đồng. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị M2 là 3.000.000.000đồng.
Đối với anh Trần Duy T1:
Anh Trần Duy T1 và vợ của bị cáo là bà con họ hàng với nhau nên bị cáo thường hay vay, mượn tiền của anh T1. Bị cáo bắt đầu vay tiền của anh T1 từ năm 2020, mỗi lần vay số tiền từ 200.000.000đồng đến 1.500.000.000đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất dao động từ 2.000 đồng đến 2.500đồng/1.000.000đồng/ngày, hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ gì. Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến đầu năm 2022, anh T1 đã nhiều lần đưa tiền mặt và chuyển khoản cho bị cáo vay, mượn và bị cáo cũng nhiều lần trả nợ cho anh T1. Đến tháng 4/2022, bị cáo nợ tiền nhiều người, để có tiền trả nợ nên bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối cần tiền để đáo hạn cho khách hàng, bị cáo còn tự tạo một tài khoản Zalo khác nhắn tin với chính tài khoản Zalo của bị cáo có nội dung đang thực hiện thủ tục giải ngân tiền đáo hạn Ngân hàng. Sau đó, bị cáo chụp màn hình và gửi cho anh T1. Ngoài ra, bị cáo còn tự viết giấy mượn tiền không có thật thể hiện người khác mượn tiền của bị cáo để anh T1 tin tưởng đưa tiền cho bị cáo vay. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 4/2022 đến ngày 09/5/2022 anh T1 đã nhiều lần chuyển khoản cho bị cáo vay với tổng số tiền là 3.150.000.000đồng và bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này.
Đối với chị Trần Thị Thu T2:
Bị cáo và chị Trần Thị Thu T2 quen biết với nhau từ giữa năm 2021. Sau khi quen biết, bị cáo đặt vấn đề vay tiền của chị T2 để mua bán đất và xử lý công việc của bị cáo. Trong khoảng thời gian từ giữa năm 2021 đến đầu năm 2022 chị T2 đã nhiều lần đưa tiền cho bị cáo vay, hai bên thỏa thuận lãi suất vay là 2.500đồng/1.000.000đồng/ngày, thời hạn trả nợ chỉ vài ngày, trong thời gian này bị cáo đã trả gốc, lãi đầy đủ cho chị T2. Đến ngày 30/3/2022, bị cáo nói với chị T2 cần vay 900.000.000đồng để xử lý hồ sơ đáo hạn Ngân hàng và cũng thỏa thuận lãi suất vay là 2.500đồng/1.000.000đồng/ngày nên chị T2 đồng ý cho bị cáo vay và chuyển khoản cho bị cáo số tiền 900.000.000đồng. Bị cáo đã chiếm đoạt số tiền này của chị T2.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H:
Bị cáo và anh Nguyễn Ngọc H quen biết với nhau từ đầu năm 2022. Sau đó, bị cáo chủ động điện thoại cho anh H hỏi vay tiền để đáo hạn Ngân hàng cho khách hàng. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 4/2022 anh H đã nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo vay, bị cáo cũng nhiều lần chuyển trả tiền cho anh H. Tính đến tháng 4/2022, bị cáo còn nợ anh H số tiền 1.750.000.000đồng nhưng sau đó bị cáo bỏ đi khỏi địa phương và cắt đứt mọi liên lạc. Bị cáo khai do nợ tiền nhiều người nên bị cáo đã nói dối với anh H là làm đáo hạn Ngân hàng để anh H tin chuyển tiền cho bị cáo vay và bị cáo đã sử dụng để tiêu xài cá nhân, trả nợ xoay vòng cho người khác.
Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận thực tế bị cáo không làm thủ tục đáo hạn Ngân hàng cho bất kỳ khoản vay nào như đã đưa ra thông tin cho các bị hại nêu trên. Vì muốn có tiền để trả nợ cho những khoản vay trước đó của mình, bị cáo đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng cho bị cáo vay tiền. Sau khi nhận được tiền M1 dùng để trả nợ xoay vòng cho nhiều người, trong đó có khoản trả nợ cho chính khoản vay trước đó của người vừa cho vay và một phần tiêu xài cá nhân.
Kết quả giám định:
Quá trình điều tra, anh Trần Duy T1 đã cung cấp 02 “Giấy mượn tiền” và 01 điện thoại di động chứa nội dung tin nhắn giữa anh T1 với bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, ký và dữ liệu kỹ thuật số, kết quả như sau:
- + Tại bản kết luận giám định số 927/KL-KTHS, ngày 14/10/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q kết luận: Chữ ký và chữ viết, chữ ký ghi họ tên “Nguyễn Minh M1” dưới cột mục “Bên mượn tiền” trên 02 (hai) tài liệu cần giám định có đầu đề: “GIẤY MƯỢN TIỀN” đề ngày 9/2/2021 (ký hiệu A1, A2) với chữ ký và chữ viết ghi họ tên Nguyễn Minh M1 trên các tài liệu mẫu so sánh “ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHẤM DỨT/TẠM HOÃN HỢP ĐỒNG” đề ngày 09/02/2022, “BIÊN BẢN BÀN GIAO CÔNG VIỆC, HỒ SƠ VÀ CÁC NGHĨA VỤ LIÊN QUAN QUAN HỆ LAO ĐỘNG” đề tháng 02/2022, Văn bản đề nghị khóa/bàn giao UserID không đề ngày tháng năm, “PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC SAU THỬ VIỆC” đề ngày 24/9/20221 (ký hiệu từ M1 đến M) gửi giám định là do cùng một người ký viết ra.
- + Tại bản kết luận giám định số 928/KL-KTHS, ngày 24/10/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q kết luận: Dữ liệu bên trong điện thoại di động S Z Fljp 5G, màu đen, số seri: R5CRA2FC6BN, IMEI: 355001764403688, IMEI (eSim): 359042134403681. Trích xuất được 01 phụ lục thể hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Viber giữa tài khoản Viber đăng nhập trên điện thoại có tên: “Tran Duy T4” với tài khoản Viber có tên: "A M3".
Qua nội dung sao kê tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Minh M1 xác định được: Ngoài vay tiền của 04 người bị hại nêu trên thì bị cáo còn nợ tiền của rất nhiều người như: Ông Nguyễn Sinh T3 số tiền 1.200.000.000đồng, bà Phạm Thị Ngọc L số tiền 1.500.000.000 đồng, ông Đỗ Tấn V số tiền 600.000.000đồng, bà Nguyễn Thị H1 số tiền 600.000.000đồng, bà Võ Thị Hồng H2 số tiền 200.000.000đồng, bà Hồ Thanh V1 số tiền 1.000.000.000đồng, bà Trần Thị Kim P số tiền 750.000.000đồng nhưng những người này không gửi đơn tố giác và việc giao dịch giữa những người này với bị cáo chỉ là quan hệ vay mượn tiền với nhau.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Minh M1 về "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố Nguyễn Minh M1 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", đề nghị xử phạt Nguyễn Minh M1 mức án từ 13 năm tù đến 14 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị hại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền, cụ thể:
- - Chị Lê Thị Tuyết M2 yêu cầu trả lại số tiền: 3.000.000.000đồng.
- - Anh Trần Duy T1 yêu cầu trả lại số tiền: 3.150.000.000đồng.
- - Chị Trần Thị Thu T2 yêu cầu trả lại số tiền: 900.000.000đồng.
- - Anh Nguyễn Ngọc H yêu cầu trả lại số tiền: 1.750.000.000đồng.
Tính đến ngày xét xử gia đình bị cáo đã nộp khắc phục một phần thiệt hại cho các bị hại, với số tiền 100.000.000đồng.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; khoản 1 Điều 166 và Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2015; đề nghị buộc bị cáo phải hoàn trả tài sản chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể: Trả cho chị Lê Thị Tuyết M2 số tiền 3.000.000.000đồng; trả cho ông Trần Duy T1 số tiền 3.150.000.000đồng; trả cho chị Trần Thị Thu T2 số tiền 900.000.000đồng và trả cho anh Nguyễn Ngọc H số tiền 1.750.000.000đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000đồng do gia đình bị cáo nộp khắc phục hậu quả cho các bị hại để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng như sau:
Đối với 01 (một) “Giấy mượn tiền” đề ngày 9/2/2021, có nội dung Nguyễn Minh M1, CMND số [...] do Công an tỉnh cấp ngày 08/02/2017, chỗ ở hiện tại: phường N, thành phố Q có mượn ông Trần Duy T1 số tiền 1.170.000.000 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng), thời gian mượn từ ngày 09/02/2021. Có chữ ký, chữ viết của bên mượn tiền là Nguyễn Minh M1, bên cho mượn tiền là Trần Duy T1.
Đối với 01 (một) “Giấy mượn tiền” đề ngày 28/01/2021 với nội dung ông Nguyễn Minh M1, CCCD số [...] do Cục C cấp ngày 28/6/2021, địa chỉ tại tổ G, phường N, thành phố Q có mượn ông Trần Duy T1, địa chỉ tại phường C, thành phố Q; số tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm triệu đồng). Có chữ ký, chữ viết của bên mượn tiền là Nguyễn Minh M1, bên cho mượn tiền là Trần Duy T1.
Các giấy mượn tiền trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) điện thoại di động S z Flip 5G, màu đen, số seri: R5CRA2FC6BN, IMEI: 355001764403688, IMEI (eSim): 359042134403681: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Duy T1 là chủ sở hữu nên không xem xét.
Đối với 01 (một) thẻ đảng viên số 50.056818 mang tên Nguyễn Minh M1; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Minh M1; 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen nhãn hiệu Redmi, bên trong gắn một thẻ sim của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không xem xét.
Về các vấn đề khác:
Đối với số tiền mà bị cáo Nguyễn Minh M1 đã chiếm đoạt của các bị hại rồi trả nợ xoay vòng cho chính bị hại và một số người khác như: Anh Nguyễn Sinh T3, chị Phạm Thị Ngọc L, anh Đỗ Tấn V, chị Nguyễn Thị H1, chị Võ Thị Hồng H2, chị Hồ Thanh V1, chị Trần Thị Kim P. Qua làm việc với bị cáo và một số người này xác định giữa họ với bị cáo có vay nợ với nhau nhiều lần và khi nhận tiền thì họ không biết nguồn gốc số tiền bị cáo trả nợ cho họ là do phạm tội mà có và cũng không tội phạm rửa tiền hoặc hành vi tẩu tán tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Đồng thời, số tiền giao dịch giữa các bị hại, bị cáo và những người có liên quan nêu trên diễn ra trong thời gian dài và vay, trả xoay vòng nên không có cơ sở để truy thu số tiền này.
Tại bản luận cứ bào chữa của Luật sư Trịnh Văn B có nội dung bào chữa cho bị cáo như sau:
Về tội danh: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Minh M1 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại. Bị cáo có thời gian tham gia dân quân tự quản tại UBND phường N, trong thời gian tham gia luôn hoàn thành nhiệm vụ, nhiều lần được tặng Bằng khen, Giấy khen (không lưu giữ) nhưng được UBND phường N xác nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt thấp nhất cho bị cáo nhằm giúp bị cáo có cơ hội, điều kiện sửa chữa sai lầm, sớm hòa nhập cộng đồng và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Ý kiến của bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất lời bào chữa của người bào chữa.
Ngoài ra, bị cáo đề nghị áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ là bị cáo có ông nội Nguyễn B1 là người có công cách mạng, tham gia kháng chiến bị địch bắt tù đày.
Ngoài ra, bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì thêm.
Ý kiến tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên: Không.
Ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng khác: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, Luật sư Trịnh Văn B là người bào chữa cho bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Nam Duy K, chị Võ Trần Ánh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt người bào chữa; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H1, anh Đỗ Tấn V, chị Hồ Thanh V1, chị Võ Thị Hồng H2, chị Trần Thị Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của Luật sư và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ các Điều 291, 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh M1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như phần tóm tắt nội dung vụ án ở trên; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Minh M1, nguyên là nhân viên Ngân hàng H3 - Chi nhánh Q1 nhưng đã nghỉ việc vào ngày 20/02/2022. Bị cáo là người đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật. Từ đầu tháng 01/2022 đến ngày 10/5/2022, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối cần vay tiền để làm thủ tục đáo hạn Ngân hàng cho khách hàng để nhiều lần vay tiền của 04 người bị hại, gồm: chị Lê Thị Tuyết M2, anh Trần Duy T1, chị Trần Thị Thu T2 và anh Nguyễn Ngọc H. Sau khi nhận được tiền của những người bị hại nêu trên, bị cáo không sử dụng vào mục đích đáo hạn Ngân hàng mà dùng số tiền vay được của các bị hại để trả nợ xoay vòng cho nhiều người, vì lúc này bị cáo đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ và một phần tiêu xài cá nhân. Bị cáo đã tài sản chiếm đoạt của 04 bị hại, với tổng số tiền 8.800.000.000đồng.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Minh M1 như trên đã đủ yếu tố cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh M1 không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nên phải xử phạt mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[2.3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại số tiền 100.000.000đồng nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tài sản của người khác đủ định lượng theo quy định của Bộ luật hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; khoản 1 Điều 166 và Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh M1 phải hoàn trả cho chị Lê Thị Tuyết M2 số tiền 3.000.000.000đồng; anh Trần Duy T1 số tiền 3.150.000.000đồng; chị Trần Thị Thu T2 số tiền 900.000.000đồng và anh Nguyễn Ngọc H số tiền 1.750.000.000đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000đồng do gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả cho các bị hại theo biên lai thu tiền số 0000545 ngày 09/4/2024 và biên lai thu tiền số 0002456 ngày 03/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi để đảm bảo thi hành án.
[4] Về các vấn đề khác: Đối với số tiền mà bị cáo Nguyễn Minh M1 đã chiếm đoạt của các bị hại rồi trả nợ xoay vòng cho chính bị hại và một số người khác như: anh Nguyễn Sinh T3, chị Phạm Thị Ngọc L, anh Đỗ Tấn V, chị Nguyễn Thị H1, chị Võ Thị Hồng H2, chị Hồ Thanh V1, chị Trần Thị Kim P. Qua điều tra xác định, bị cáo và những người này xác định giữa họ với bị cáo có vay, mượn với nhau nhiều lần. Khi bị cáo sử dụng một phần số tiền chiếm đoạt của các bị hại để trả nợ cho họ thì họ không biết nguồn gốc số tiền trên do phạm tội mà có và cũng không có hành vi rửa tiền hoặc tẩu tán tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Đồng thời, số tiền giao dịch giữa các bị hại, bị cáo và những người có liên quan nêu trên diễn ra trong thời gian dài, vay, trả xoay vòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có cơ sở để truy thu số tiền này nên không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q đã tạm giữ các vật chứng, đồ vật, tài sản có liên quan và lưu theo hồ sơ vụ án, như sau:
- - 01 (một) “Giấy mượn tiền” đề ngày 9/2/2021 với nội dung ông Nguyễn Minh M1, CMND số [...] do Công an tỉnh cấp ngày 08/02/2017, chổ ở hiện tại: phường N, thành phố Q có mượn ông Trần Duy T1 số tiền 1.170.000.000 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng), thời gian mượn từ ngày 09/02/2021. Có chữ ký, chữ viết của của bên mượn tiền là Nguyễn Minh M1, của bên cho mượn tiền là Trần Duy T1.
- - 01 (một) “Giấy mượn tiền” đề ngày 28/01/2021 với nội dung ông Nguyễn Minh M1, CCCD số [...] do Cục C cấp ngày 28/6/2021, địa chỉ tại tổ G, phường N, thành phố Q có mượn ông Trần Duy T1, địa chỉ tại phường C, thành phố Q số tiền 2.300.000.000 đồng (hai tỷ, ba trăm triệu đồng). Có chữ ký, chữ viết của bên mượn tiền là Nguyễn Minh M1, bên cho mượn tiền là Trần Duy T1.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Duy T1 01 (một) điện thoại di động S z Flip 5G, màu đen, số seri: R5CRA2FC6BN, IMEI: 355001764403688, IMEI (eSim): 359042134403681 nên không xem xét.
Đối với 01 (một) thẻ đảng viên số 50.056818 mang tên Nguyễn Minh M1; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Minh M1; 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen nhãn hiệu Redmi, bên trong gắn một thẻ sim: Qua điều tra xác định các đồ vật này không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
[6] Xét ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Chấp nhận một phần ý kiến bào chữa của người bào chữa xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; không chấp nhận áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ có Bằng khen, Giấy khen của UBND phường N theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì bị cáo và người bào chữa không cung cấp được bản sao Bằng khen, Giấy khen.
Đối với đề nghị của bị cáo về áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo có ông nội là Nguyễn B1 là người có công cách mạng, tham gia kháng chiến bị địch bắt tù đày, không được chấp nhận. Vì không cung cấp được giấy tờ, tài liệu chứng minh theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công.
[7] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Về đề nghị áp dụng pháp luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, loại hình phạt, mức hình phạt và xử lý vật chứng như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không tranh luận nên không xem xét.
[9] Về án phí: Áp dụng điểm b, g khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ dân sự chưa thi hành là: 8.700.000.000đồng, với số tiền án phí là: 116.700.000đồng (một trăm mười sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng).
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh M1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh M1 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã (ngày 30/9/2023).
2. Về trách nhiệm dân sự. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; khoản 1 Điều 166 và Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2015;
2.1. Buộc bị cáo Nguyễn Minh M1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Lê Thị Tuyết M2 số tiền 3.000.000.000đồng (ba tỷ đồng); anh Trần Duy T1 số tiền 3.150.000.000đồng (ba tỷ, một trăm năm mươi triệu đồng), chị Trần Thị Thu T2 số tiền 900.000.000đồng (chín trăm triệu đồng) và anh Nguyễn Ngọc H số tiền 1.750.000.000đồng (một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Minh M1 đã nộp để khắc phục hậu quả cho các bị hại theo biên lai thu tiền số 0000545 ngày 09/4/2024 và biên lai thu tiền số 0002456 ngày 03/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi để đảm bảo cho việc thi hành án.
2.2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
4. Về án phí: Áp dụng điểm Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh M1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng);
Buộc bị cáo Nguyễn Minh M1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 116.700.000đồng (một trăm mười sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/6/2024).
Riêng người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Toại |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
