Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST

Ngày: 05-12-2023

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Tấn Dũng.

Ông Nguyễn Thanh Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1975, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1 và con bà Bùi Thị K; Có chồng và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 31-5-2022, bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt; Tạm giữ, tạm giam: Không; Có mặt.

2. Đỗ Thị N2, sinh năm 1965, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn Q (chết) và con bà Lê Thị Q1 (chết); Có chồng (chết) và 05 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 02-6-2022, bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt; Tạm giữ, tạm giam: Không; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đoàn Thị K1, sinh năm 1964. Có mặt.
  2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1968. Có mặt.

1

Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Nguyễn Thị L (có mặt), Nguyễn Thị D (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị N vào ngày 31-5-2022, bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Bị cáo Đỗ Thị N2 vào ngày 02-6-2022, bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Các bị cáo chưa nộp phạt xong, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc cụ thể như sau:

Khoảng 14 giờ 55 phút, ngày 18/8/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của bà Nguyễn Thị Lệ t ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Đang diễn ra hoạt động đánh bạc ăn thua bằng tiền nên Công an xã T kiểm tra tụ điểm phát hiện các đối tượng Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Đoàn Thị K1, Đỗ Thị N2 có mặt tại tụ điểm đánh bạc, hình thức tham gia bài tây bảy lá (bài bù). Thu giữ 01 bộ bài tây (52 lá); Tiền Việt Nam: 155.000 đồng. Trong đó của K1: 54.000 đồng; N 35.000 đồng; N2 28.000 đồng; H 38.000 đồng. Qua làm việc, các đối tượng H, K1, N2, N thừa nhận hành vi tham gia đánh bạc. Xét thấy có dấu hiệu tội phạm nên chuyển toàn bộ hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H, xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • - 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.
  • - Tiền Việt Nam: 155.000 đồng. Trong đó của K1: 54.000 đồng; N 35.000 đồng; N2 28.000 đồng; H 38.000 đồng.

Tại Cáo trạng truy tố số 50/CT-VKSHN ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị NĐỗ Thị N2 đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo phạm tội đánh bạc. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có người thân trong gia đình có công cách mạng.

Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho các bị cáo

2

được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh nên không đề cập đến.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với: Tiền Việt Nam 155.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và tiền thu lợi bất chính từ đánh bạc.

Đối với Đoàn Thị K1, Nguyễn Thị H có hành vi tham gia đánh bạc, số tiền không đủ định lượng, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt hành chính đối với các đối tượng này.

Đối với Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị D có mặt tại điểm đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với Cáo trạng truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 khai nhận hành vi của các bị cáo như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án được đánh giá tại phiên tòa hôm nay như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai...

[3] Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, xuất phát từ động cơ muốn đánh bạc với nhau bằng tiền nhằm mục đích thu lợi bất chính mà các bị cáo dễ dàng dẫn đến con đường phạm tội. Mặc dù số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc chưa đủ định lượng (từ 5.000.000 đồng) để cấu thành tội đánh bạc. Tuy nhiên, các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, các bị cáo chưa nộp phạt xong, nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, do đó hành vi của

3

các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị Nghĩa 1 có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự, như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Ngoài ra, trong vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Điều 17 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

...”

[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính, trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội và là tệ nạn của xã hội bị nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét về nhân thân của các bị cáo là thành phần nhân dân lao động, các bị cáo không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo Nguyễn Thị N có mẹ ruột là bà Bùi Thị K được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Bị cáo Đỗ Thị N2 có cha ruột ông Đỗ Văn Q hy sinh ngày 30-01-1965 được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ giải phóng nên xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

4

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là nội trợ trong gia đình, không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế thu nhập thấp, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Đề nghị Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Những vấn đề khác Cáo trạng không đề cập, nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 đồng phạm tội “Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 12 năm 2023).

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị N2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 12 năm 2023).

Giao các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 phạm tội mới, thì Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N2 thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) bộ bài tây 52 lá, đã qua

5

sử dụng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền: 155.000 đồng (một trăm năm mươi lăm nghìn đồng), đây là tiền dùng vào việc phạm tội. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên lai thu tiền số: 0001727 ngày 26 tháng 10 năm 2023.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị N và bị cáo Đỗ Thị N2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 12 năm 2023).

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại (nếu có);
  • - Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - Nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; - Cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Quốc Bình

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 50/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Đỗ Thị N đồng phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 12 năm 2023). Xử phạt bị cáo Đỗ Thị N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 12 năm 2023).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger