|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 05-7-2024.
V/v: Xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chung;
Ông Trần Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Đ; sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T; sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bà T có mặt tại phiên tòa; ông Đ vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai, ông Nguyễn Hữu Đ trình bày: ông và bà T tự nguyện kết hôn năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, bà T sống không chung thuỷ. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu S, sinh năm 2004 và Nguyễn An N, sinh ngày 19-7-2014. Khi ly hôn cháu S đã trưởng thành và hoàn toàn khoẻ mạnh nên không yêu cầu giải quyết, ông xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu N; không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng đã tự thoả thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Theo lời khai, lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Kim T trình bày: Công nhận lời trình bày của ông Đ về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là đúng. Vợ chồng mâu thuẫn và đã sống ly thân nhưng bà vẫn mong muốn vợ chồng gặp nhau bàn bạc nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Đ.
Nếu Toà án giải quyết cho ly hôn, về con chung bà đồng ý giao cháu N cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho ông Nguyễn Hữu Đ và bà Nguyễn Kim T được ly hôn; Giao con chung tên Nguyễn An N, sinh ngày 19-7-2014 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại, thăm nom, giáo dục con chung; Ông Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Hữu Đ là nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà T tự nguyện kết hôn năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, bà T sống không chung thuỷ. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Ông Đ xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Bà T cũng thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn và đã sống ly thân nhưng bà vẫn mong muốn vợ chồng bàn bạc nên không đồng ý ly hôn, tuy vậy bà T lại không có biện pháp gì để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Đ và bà T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Đ cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho ông Đ và bà T được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu S, sinh năm 2004 và Nguyễn An N, sinh ngày 19-7-2014. Khi ly hôn cháu S đã trưởng thành và hoàn toàn khoẻ mạnh nên không đề cập giải quyết, ông Đ xin trực tiếp nuôi dưỡng dưỡng cháu N, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Bà T cũng đồng ý giao con chung cho ông Đ nuôi dưỡng. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con và sự thoả thuận của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao con chung tên Nguyễn An N, sinh ngày 19-7-2014 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; bà T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Theo ông Đ trình bày thì vợ chồng đã tự thoả thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Bà T cũng không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản nên không đề cập giải quyết về tài sản là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Ông Đ phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1) Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu Đ và bà Nguyễn Kim T được ly hôn.
2) Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn An N, sinh ngày 19-7-2014 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Nguyễn Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định của pháp luật.
3) Về án phí: Ông Nguyễn Hữu Đ chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0005412 ngày 03-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(ông Đ đã nộp đủ án phí).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Văn Học |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ