1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày: 04 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân. 1. Ông Trần Trọng Vĩnh
2. Ông Thượng Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 15/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với các các bị cáo:
1. Điểu Vượng, sinh ngày 20/4/1997. Tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X'tiêng; Tôn giáo: Tin lành; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12.
Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ D, ấp T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Cha: Điểu K, sinh năm 1963, Mẹ: Thị Bé, sinh năm 1975, cùng cư trú tại tổ D, ấp T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Ngày 15/02/2024 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ E, ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và bị tạm giữ.
Đến ngày 23/02/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.
2. Điểu Phụng, sinh ngày 01/01/1994. Tại: tỉnh Bình Phước.
2
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X'tiêng; Tôn giáo: Tin lành; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12.
Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ D, ấp T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Cha: Điểu N, sinh năm 1951 (đã chết), Mẹ: Thị S, sinh năm 1951 (đã chết); Bị cáo có 05 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1996, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Thị H, sinh năm 1993; Con: Điểu Hoàng A, sinh năm 2016.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Ngày 15/02/2024 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ E, ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và bị tạm giữ.
Đến ngày 23/02/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ, ngày 15/02/2024, Điểu V một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 93B1 – 311.27 từ nhà đi đến nhà Đ thuộc tổ D, ấp T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước để chơi, trong lúc nói chuyện với nhau thì Điểu V rủ Điểu P cùng đi mua ma túy về nhằm mục đích để sử dụng thì P đồng ý. Sau đó Điểu V đưa cho Điểu P số tiền 200.000 đồng để mua ma túy rồi V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 93B1 – 311.27 chở P đi đến khu vực ngã ba X thuộc ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước tìm gặp một người phụ nữ tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Khi đến khu vực ngã ba X, lúc này V dừng xe bên lề đường Quốc lộ 13, còn P đi tìm gặp người phụ nữ tên H1 mua 01 gói ma túy với giá tiền 200.000 đồng, sau khi mua được gói ma túy thì P cầm gói ma túy vào trong lòng bàn tay để đi về nhà. Khi V và P đang dừng xe bên lề đường chuẩn bị đi về nhà, ngay lúc này bị lực lượng Công an xã T đến kiểm tra, do sợ bị phát hiện Điểu P đã ném gói ma túy mới mua được xuống nền đất ngay tại vị trí P đang đứng nên Công an xã T phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Điểu V và Điểu P, đồng thời
3
chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Bình Phước để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Điểu V và Điểu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số: 237/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1430 gam.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon trong suốt, hàn kín đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là ma túy);
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider màu đen, biển kiểm soát 93B1- 311.27, số máy: 207168, số khung: 207160.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 0,1430 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,0947 gam, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 93B1-311.27, do Đ V sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do chị Thị L, sinh năm 2001 (em gái của Đ), nơi đăng ký thường trú: tổ D, ấp T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 15/02/2024 Điểu V sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi mua ma túy thì bị bắt quả tang, về ý thức thì chị Thị Liên hoàn t không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị Thị L theo quy định của pháp luật; do vậy Viện kiểm sát không đề cập đến.
Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
4
Tại bản cáo trạng số 44/CT – VKSHQ ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Điểu V và Điểu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Điểu V, Điểu P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Điểu V mức án từ 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H2) năm tù.
Xử phạt bị cáo Điểu P mức án từ 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H2) năm tù.
* Đề nghị xử lý vật chứng:
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên đề nghị về sử lý vật chứng và vấn đề dân sự như nội dung bản cáo trạng.
Các bị cáo tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Điểu V, Điểu P khai nhận:
5
Khoảng 13 giờ, ngày 15/02/2024, Điểu V đưa cho Điểu P số tiền 200.000 đồng đi mua 01 gói ma túy nhằm mục đích mang về sử dụng. Sau đó Điểu V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 93B1 – 311.27 chở P đi đến khu vực ngã ba X thuộc ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước tìm gặp người phụ nữ tên H1 mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau khi mua được gói ma túy thì Điểu V, Điểu P bị Công an xã T kiểm tra, phát hiện nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Điểu V và Điểu P.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn; các bị cáo gặp nhau và cùng rủ nhau mua ma túy để tàng trử sử dụng nên không ai là chủ mưu, khởi xướng, rủ rê, lôi kéo.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tù có thời hạn để các bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản vẫn giữ nguyên nội dung truy tố như bản Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 14/5/2024, truy tố các bị cáo Điểu V, Điểu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đề đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung cáo trạng là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về vấn đề dân sự: Không có nên không đề cập đến.
[6] Về án phí: Các bị cáo K1 chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Điểu V, Điểu P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,0947 gam.
Các vật chứng khác cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hớn Quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 0005994 ngày 16/5/2024 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Điểu V, Điểu P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: oki
