|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 50/2024/HS-PT. Ngày: 04/6/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Ông Lâm Tấn Vinh.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Vũ Hoàng P, Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M, Nguyễn Minh D, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Đinh Văn H1, Dương Thanh S do có kháng cáo của các bị cáo Vũ Hoàng P, Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M, Nguyễn Minh D, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Đinh Văn H1, Dương Thanh S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Vũ Hoàng P; Sinh ngày 08/4/2000; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn V và bà Phan Thị Mỹ E (chết); Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 10/2019/QĐ-TA ngày 29/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, Vũ Hoàng P bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã chấp hành xong ngày 18/01/2021 (đã xóa tiền sự); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 07/02/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; (có mặt)
- Huỳnh Văn H; Sinh ngày 22/10/2001; Nơi sinh: Tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Số E C, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Phi H2 và bà Phan Thị Tuyết L; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay; (có mặt)
- Đoàn Hoàng M; Sinh ngày 08/10/2004; Nơi sinh: Tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn H3 và bà Đỗ Thị Ngọc G; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay; (có mặt)
- Nguyễn Minh D; Sinh ngày 14/3/1999; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh T1 và bà Nguyễn Thị Bích L1; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay; (có mặt)
- Trần Minh T; Sinh ngày 20/02/2003; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn V1 và bà Lê Thị S1; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Quang Thanh M1; Sinh ngày 10/9/2001; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quang Văn M2 và bà Nguyễn Thị T2; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Đinh Văn H1; Sinh ngày 01/01/1997; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn S2 và bà Phan Thị Mỹ H4; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2020/QĐ-TA ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Đinh Văn H1 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng đã chấp hành xong nhưng chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Dương Thanh S; Sinh ngày 28/7/2004; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Hùng A và bà Đỗ Thị N; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 39/2023/QĐ-TA ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Dương Thanh S bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đang chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Quang Thanh M1: Ông Trần Bửu Thịnh Đ-Luật sư của Công ty L9, thuộc đoàn luật sư thành phố C; Địa chỉ: Số E, N, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: các bị cáo Trần Minh N1, Phan Trọng P1, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Nguyễn Trung K, Bùi Vương L2, Ngô Văn Đ1, Nguyễn Khánh L3, Trần Văn Đ2; Bị hại Huỳnh Tú L4; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bà Nguyễn Thị Kim T3, ông Đinh Văn S2; Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc B, ông Nguyễn Văn H5, ông Vũ Văn L5, ông Bùi Hoàng L6, ông Dương Hải L7, ông Huỳnh Thanh P2, ông Nguyễn Trường A1, ông Hồ Lê L8, ông Quách Văn T4, ông Trần Văn Đ3, ông Trần Nhật T5, ông Kim Tuấn Đ4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Tú L4 và Vũ Hoàng P là bạn có quen biết với nhau, do phát sinh mâu thuẫn trong lúc nói chuyện qua điện thoại trước đó, nên vào sáng ngày 31/01/2023 Huỳnh Tú L4 và P hẹn 17 giờ cùng ngày đến Cống B thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để đánh nhau. Sau đó P rủ những người bạn chơi chung gồm: Phan Trọng P1, Trần Minh N1, Nguyễn Minh D, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Nguyễn Trung K, Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M đi đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4 thì cả nhóm đều đồng ý và chuẩn bị hung khí gồm: Dao tự chế, chĩa 3 mũi và bom xăng; đối với Huỳnh Tú L4 thì rủ Nguyễn Khánh L3, Bùi Vương L2, Dương Thanh S, Đinh Văn H1, Trần Văn Đ2, Ngô Văn Đ1, Quang Thanh M1, Trần Minh T và một số người khác (nhưng không xác định được họ tên gì, địa chỉ ở đâu, do Huỳnh Tú L4 đã chết lúc hai bên đánh nhau. Đến khoảng 17 giờ ngày 31/01/2023, nhóm của Huỳnh Tú L4 đi đến Cống B, nhưng nhóm người của P không đến nên nhóm của Huỳnh Tú L4 đi về nhà của Nguyễn Khánh L3 ở ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để uống bia, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, P tập trung được cả nhóm đến quán C trong khu dân cư B (thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng) để chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4. Tại quán C nhóm của P gồm có: Phi, K, D, N, P1, H, M1, N2. Lúc này Huỳnh Tú L4 lấy điện thoại thông qua app M3 gọi cho P và thống nhất cả hai nhóm tập trung tại khu vực Cầu B thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng trên tuyến Quốc lộ A (là khu vực đông dân cư, có nhiều người và phương tiện qua lại) để đánh nhau. Sau khi thống nhất được địa điểm để đánh nhau, thì nhóm của P có 08 người đi trên 03 chiếc xe mô tô (P1 điều khiển xe mô tô chở P, N; D điều khiển xe mô tô chở K; H điều khiển xe mô tô chở M1, N2) mang theo dao tự chế, chĩa 3 mũi và bom xăng do nhóm của P tự chế để trong chai bia bằng thủy tinh. Nhóm của Huỳnh Tú L4 cũng có nhiều người mang theo hung khí là dao tự chế trong đó xác định được có Huỳnh Tú L4, Nguyễn Khánh L3, S, Đ2, Đ1, Bùi Vương L2 và H1 là những người có cầm theo dao tự chế, đi trên nhiều xe mô tô khác nhau, do những người trong nhóm của Huỳnh Tú L4 chưa quen biết nhau trước đó nên chỉ xác định được khoảng 03-04 xe, nhưng không xác định được chính xác là ai đi với ai bằng xe gì. Khi nhóm người của P đi từ hướng từ Sóc Trăng-Cần Thơ xuống dốc Cầu B, gần đến quán C1 (nay là cà phê 97) thì gặp nhóm của Huỳnh Tú L4 (đi cùng gồm Nguyễn Khánh L3, Bùi Vương L2, S, Đ2, Đ1, M1, T và một số người khác) đang đứng phía đối diện bên lộ. Lúc này, P cầm chai bom xăng tự chế đốt và ném chai bom xăng về hướng nhóm của Huỳnh Tú L4 đang đứng, làm bom xăng cháy nổ, nhưng không có trúng ai. Sau khi ném bom xăng xong, P la lên “nó kìa, nó kìa” và cùng với những người trong nhóm cầm hung khí chạy ngang qua Quốc lộ A để chém, đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4, làm náo loạn khu vực Quốc lộ A dưới dốc cầu B và làm cho người dân sinh sống hai bên Quốc lộ A dưới dốc cầu B lo sợ và đóng cửa nhà lại. Lúc này, nhóm người của Huỳnh Tú L4 cũng mang theo nhiều loại hung khí nguy hiểm khác nhau, nhưng khi phát hiện P ném bom xăng làm cháy nổ trên mặt đường Q và có người la lớn “có Công an” nên nhóm người của Tú L4 bỏ chạy lên cầu T hết, chỉ còn lại một mình Huỳnh Tú L4 cầm dao tự chế đâm, chém lại nhóm người của P. Khi Huỳnh Tú L4 cầm dao tự chế chém vào người P thì P dùng tay nắm lấy lưỡi dao, giằng co qua lại với Huỳnh Tú L4 làm cho Huỳnh Tú L4 té ngã xuống lề lộ và buông dao ra. Lúc này, những người trong nhóm của P chạy lại chỗ Huỳnh Tú L4 đang nằm đâm, chém, đánh Huỳnh Tú L4, trong đó xác định được: N1 cầm cây chĩa 3 mũi đâm Huỳnh Tú L4 không trúng, thì tiếp tục dùng dao bấm đâm nhiều cái vào chân Huỳnh Tú L4, P1 dùng chân đạp nhiều cái vào người của Huỳnh Tú L4; P cầm dao tự chế đánh bằng bề bảng nhiều cái vào chân Huỳnh Tú L4 và dùng chân đá nhiều cái vào mặt Huỳnh Tú L4. Do nhóm người của Huỳnh Tú L4 đã bỏ chạy hết nên nhóm người của P còn lại đứng bao vây xung quanh khu vực Huỳnh Tú L4 đang đánh nhau với nhóm của P để tham gia đánh nhau nếu nhóm của Huỳnh Tú L4 phản công lại hoặc ngồi trên xe chờ chở đồng phạm tẩu thoát, bao gồm N2, M1 cầm dao tự chế, K đứng xung quanh nơi đang đánh nhau để quan sát; Hồ, D ngồi trên xe mô tô quan sát để chờ chở nhóm của P tẩu thoát sau khi đã đánh nhau xong. Do thấy Huỳnh Tú L4 bị nhiều người đánh, đâm, chém bị thương nặng và sợ nhóm người của Huỳnh Tú L4 quay lại nên N2 đi vào kéo P ra, nhưng P tiếp tục đá vào người Huỳnh Tú L4. Khi đang đá Huỳnh Tú L4, P nghe nhóm của Huỳnh Tú L4 quay lại và nói “chém chết mẹ nó”, nên nhóm người của P lên xe bỏ chạy đi. Hậu quả, P, N, P1 cũng có bị thương tích nhẹ và tự đi điều trị vết thương, còn Huỳnh Tú L4 bị thương tích nặng nên được nhóm bạn của Huỳnh Tú L4 đưa đến Trung tâm Y tế thành phố N, tỉnh Hậu Giang cấp cứu thì được nơi đây thông báo là Huỳnh Tú L4 đã tử vong.
Sau khi tiếp nhận được tin báo thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành mời tất cả các đối tượng có liên quan về làm việc. Tại Cơ quan Điều tra các đối tượng có liên quan đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 34/KLGĐTT-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh S Kết luận: Đối với Huỳnh Tú L4 Nguyên nhân chết: Mất máu cấp; Kết luận khác: Thời gian chết (đến khi phẫu tử thi): > 6 giờ; Vết 6, 7, 8 do vật sắc nhọn gây nên; các vết còn lại do vật tầy gây nên.
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Hoàng P, Trần Minh N1, Phan Trọng P1, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Đoàn Hoàng M, Huỳnh Văn H, Nguyễn Trung K, Nguyễn Minh D về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Vương L2, Nguyễn Khánh L3, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Ngô Văn Đ1, Đinh Văn H1, Dương Thanh S, Trần Văn Đ2 về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Hoàng P, Trần Minh N1, Phan Trọng P1, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Đoàn Hoàng M, Huỳnh Văn H, Nguyễn Trung K, Nguyễn Minh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Hoàng P 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Minh N1 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Trọng P1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Huỳnh Phương N2 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Hoàng M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Huỳnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Trung K 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Minh D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Vương L2, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Ngô Văn Đ1, Đinh Văn H1, Dương Thanh S, Nguyễn Khánh L3, Trần Văn Đ2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Vương L2 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s, v khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Quang T6 Mãi 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Văn Đ1 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Văn H1 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Khánh L3 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Đ2 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của các bị cáo và người tham gia tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của Quang T6 Mãi lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 02/02/2024, đơn kháng cáo của bị cáo Trần Minh T lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 05/02/2024; đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh D, Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M lập và được Nhà tạm giữ Công an huyện K xác nhận vào ngày 07/02/2024; Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Hoàng P lập và được Trại tạm giam Công an tỉnh S xác nhận vào ngày 13/02/2024 và đơn kháng cáo của bị cáo Dương Thanh S lập và được cơ sở Cai nghiện tỉnh Sóc Trăng xác nhận vào ngày 15/02/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Tại phiên tòa bị cáo Quang T6 Mãi rút phần kháng cáo xin xem xét lại hành vi của bị cáo là không có tội, xét thấy việc bị cáo Quang T6 Mãi rút phần kháng cáo này là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận, căn cứ vào khoản 3 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo xin xem xét lại hành vi của bị cáo là không phạm tội và căn cứ vào Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Huỳnh Tú L4 và Vũ Hoàng P là bạn có quen biết với nhau, do phát sinh mâu thuẫn trong lúc nói chuyện qua điện thoại trước đó, nên vào sáng ngày 31/01/2023 Huỳnh Tú L4 và P hẹn 17 giờ cùng ngày đến Cống B thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để đánh nhau. Sau đó P rủ những người bạn chơi chung gồm: Phan Trọng P1, Trần Minh N1, Nguyễn Minh D, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Nguyễn Trung K, Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M đi đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4 thì cả nhóm đều đồng ý và chuẩn bị hung khí gồm: Dao tự chế, chĩa 3 mũi và bom xăng; đối với Huỳnh Tú L4 thì rủ Nguyễn Khánh L3, Bùi Vương L2, Dương Thanh S, Đinh Văn H1, Trần Văn Đ2, Ngô Văn Đ1, Quang Thanh M1, Trần Minh T và một số người khác (nhưng không xác định được họ tên gì, địa chỉ ở đâu, do Huỳnh Tú L4 đã chết lúc hai bên đánh nhau. Đến khoảng 17 giờ ngày 31/01/2023, nhóm của Huỳnh Tú L4 đi đến Cống B, nhưng nhóm người của P không đến nên nhóm của Huỳnh Tú L4 đi về nhà của Nguyễn Khánh L3 ở ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để uống bia, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, P tập trung được cả nhóm đến quán C trong khu dân cư B (thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng) để chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4. Tại quán C nhóm của P gồm có: Phi, K, D, N, P1, H, M1, N2. Lúc này Huỳnh Tú L4 lấy điện thoại thông qua app M3 gọi cho P và thống nhất cả hai nhóm tập trung tại khu vực Cầu B thuộc ấp B, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng trên tuyến Quốc lộ A (là khu vực đông dân cư, có nhiều người và phương tiện qua lại) để đánh nhau. Sau khi thống nhất được địa điểm để đánh nhau, thì nhóm của P có 08 người đi trên 03 chiếc xe mô tô (P1 điều khiển xe mô tô chở P, N; D điều khiển xe mô tô chở K; H điều khiển xe mô tô chở M1, N2) mang theo dao tự chế, chĩa 3 mũi và bom xăng do nhóm của P tự chế để trong chai bia bằng thủy tinh. Nhóm của Huỳnh Tú L4 cũng có nhiều người mang theo hung khí là dao tự chế trong đó xác định được có Huỳnh Tú L4, Nguyễn Khánh L3, S, Đ2, Đ1, Bùi Vương L2 và H1 là những người có cầm theo dao tự chế, đi trên nhiều xe mô tô khác nhau, do những người trong nhóm của Huỳnh Tú L4 chưa quen biết nhau trước đó nên chỉ xác định được khoảng 03-04 xe, nhưng không xác định được chính xác là ai đi với ai bằng xe gì. Khi nhóm người của P đi từ hướng từ Sóc Trăng-Cần Thơ xuống dốc Cầu B, gần đến quán C1 (nay là cà phê 97) thì gặp nhóm của Huỳnh Tú L4 (đi cùng gồm Nguyễn Khánh L3, Bùi Vương L2, S, Đ2, Đ1, M1, T và một số người khác) đang đứng phía đối diện bên lộ. Lúc này, P cầm chai bom xăng tự chế đốt và ném chai bom xăng về hướng nhóm của Huỳnh Tú L4 đang đứng, làm bom xăng cháy nổ, nhưng không có trúng ai. Sau khi ném bom xăng xong, P la lên “nó kìa, nó kìa” và cùng với những người trong nhóm cầm hung khí chạy ngang qua Quốc lộ A để chém, đánh nhau với nhóm của Huỳnh Tú L4, làm náo loạn khu vực Quốc lộ A dưới dốc cầu B và làm cho người dân sinh sống hai bên Quốc lộ A dưới dốc cầu B lo sợ và đóng cửa nhà lại. Lúc này, nhóm người của Huỳnh Tú L4 cũng mang theo nhiều loại hung khí nguy hiểm khác nhau, nhưng khi phát hiện P ném bom xăng làm cháy nổ trên mặt đường Q và có người la lớn “có Công an” nên nhóm người của Tú L4 bỏ chạy lên cầu T hết, chỉ còn lại một mình Huỳnh Tú L4 cầm dao tự chế đâm, chém lại nhóm người của P. Khi Huỳnh Tú L4 cầm dao tự chế chém vào người P thì P dùng tay nắm lấy lưỡi dao, giằng co qua lại với Huỳnh Tú L4 làm cho Huỳnh Tú L4 té ngã xuống lề lộ và buông dao ra. Lúc này, những người trong nhóm của P chạy lại chỗ Huỳnh Tú L4 đang nằm đâm, chém, đánh Huỳnh Tú L4, trong đó xác định được: N1 cầm cây chĩa 3 mũi đâm Huỳnh Tú L4 không trúng, thì tiếp tục dùng dao bấm đâm nhiều cái vào chân Huỳnh Tú L4, P1 dùng chân đạp nhiều cái vào người của Huỳnh Tú L4; P cầm dao tự chế đánh bằng bề bảng nhiều cái vào chân Huỳnh Tú L4 và dùng chân đá nhiều cái vào mặt Huỳnh Tú L4. Do nhóm người của Huỳnh Tú L4 đã bỏ chạy hết nên nhóm người của P còn lại đứng bao vây xung quanh khu vực Huỳnh Tú L4 đang đánh nhau với nhóm của P để tham gia đánh nhau nếu nhóm của Huỳnh Tú L4 phản công lại hoặc ngồi trên xe chờ chở đồng phạm tẩu thoát, bao gồm N2, M1 cầm dao tự chế, K đứng xung quanh nơi đang đánh nhau để quan sát; Hồ, D ngồi trên xe mô tô quan sát để chờ chở nhóm của P tẩu thoát sau khi đã đánh nhau xong. Do thấy Huỳnh Tú L4 bị nhiều người đánh, đâm, chém bị thương nặng và sợ nhóm người của Huỳnh Tú L4 quay lại nên N2 đi vào kéo P ra, nhưng P tiếp tục đá vào người Huỳnh Tú L4. Khi đang đá Huỳnh Tú L4, P nghe nhóm của Huỳnh Tú L4 quay lại và nói “chém chết mẹ nó”, nên nhóm người của P lên xe bỏ chạy đi. Hậu quả, P, N, P1 cũng có bị thương tích nhẹ và tự đi điều trị vết thương, còn Huỳnh Tú L4 bị thương tích nặng nên được nhóm bạn của Huỳnh Tú L4 đưa đến Trung tâm Y tế thành phố N, tỉnh Hậu Giang cấp cứu thì được nơi đây thông báo là Huỳnh Tú L4 đã tử vong. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo các bị cáo Vũ Hoàng P, Trần Minh N1, Phan Trọng P1, Nguyễn Huỳnh Phương N2, Đoàn Hoàng M, Huỳnh Văn H, Nguyễn Trung K, Nguyễn Minh D về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; và các bị cáo Bùi Vương L2, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Ngô Văn Đ1, Đinh Văn H1, Dương Thanh S, Nguyễn Khánh L3, Trần Văn Đ2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Hoàng P: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo P có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo đã đến Công an đầu thú, đã thành khẩn khai báo, đã khắc phục một phần hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời trong vụ việc cũng có một phần lỗi của bị hại, bị cáo có cha là ông Vũ Văn V2 trước đây có làm nhiệm vụ Quốc tế tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia, hiện là Hội viên Cựu chiến binh, có đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 năm 09 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo hoặc tình tiết tăng nặng nào áp dụng không đúng đối với bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo chưa đủ căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M và Nguyễn Minh D: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định các bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như các bị cáo đã thành khẩn khai báo, các đã khắc phục một phần hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời trong vụ việc cũng có một phần lỗi của bị hại, ngoài ra bị cáo M có ông ngoại Đỗ Quốc T7 tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đoàn Hoàng M cung cấp biên lai số 0000865 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế sách, tỉnh Sóc Trăng thể hiện bị cáo nộp số tiền 12.200.000đồng; Bị cáo Nguyễn Minh D cung cấp biên lai số 0000873 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế sách, tỉnh Sóc Trăng thể hiện bị cáo nộp số tiền 5.000.000đồng và bị cáo Huỳnh Văn H cung cấp biên lai số 0000865 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế sách, tỉnh Sóc Trăng thể hiện bị cáo nộp số tiền 7.000.000đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại, thể hiện sự ăn năn hối hận của các bị cáo và là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án 07 năm 06 tháng tù/ bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo M, H, D chưa đủ căn cứ chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đinh Văn H1 và Dương Thanh S: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định các bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự các bị cáo đều có nhân thân xấu và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như các bị cáo đã thành khẩn khai báo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo H1 mức án 03 năm 09 tháng tù va xử phạt bị cáo S 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được áp dụng. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo hoặc tình tiết tăng nặng nào áp dụng không đúng đối với bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo H1, S chưa đủ căn cứ chấp nhận.
[6] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Minh T: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ngoài ra xét bị cáo có người thân bà cổ Nguyễn Thị T8 là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có ông cổ Trần Văn B1 là Liệt sỹ, có ông bác Trần Văn T9 là Liệt sỹ, có ông chú Trần Văn H6 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo hoặc tình tiết tăng nặng nào áp dụng không đúng đối với bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo chưa đủ căn cứ chấp nhận. Xét bị cáo bị xử tù ở mức hình phạt 03 năm 03 tháng và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo không đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Quang Thanh M1: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo M1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo đã thành khẩn khai báo, ngoài ra xét bị cáo trước đây là người có thành tích xuất sắc trong công tác, cụ thể trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại đơn vị Lữ đoàn 6 (binh chủng Pháo binh) đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động công tác Đoàn và phong trào Thanh niên năm 2021 và hoàn thành xuất sắc nội dung, chỉ tiêu đợt thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 75 năm ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946-19/12/2021) được tặng 02 giấy khen, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo chưa đủ căn cứ chấp nhận. Xét bị cáo bị xử tù ở mức hình phạt 03 năm 03 tháng tù và bị cáo phạm tội với tình tiết có tính chất côn đồ, đồng thời kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo không đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Quang Thanh M1.
[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điều 12, Điều 14, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm mỗi người là 200.000 đồng.
[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Vũ Hoàng P. Huỳnh Văn H, Đoàn Hoàng M, Nguyễn Minh D, Đinh Văn D1, Dương Thanh S.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của của các bị cáo Trần Minh T, Quang T6 Mãi
Giữ phần quyết định về hình phạt đối với các bị cáo của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng;
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Vũ Hoàng P 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Đoàn Hoàng M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Huỳnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, các Điều 17, 38, 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Nguyễn Minh D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Trần Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s, v khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Quang Thanh Mãi 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Đinh Văn H1 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, các Điều 17, 38, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Dương Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
* Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Buộc các bị cáo Vũ Hoàng P, Huỳnh Văn H, Đoàn H, Nguyễn Minh D, Trần Minh T, Quang Thanh M1, Đinh Văn D1, Dương Thanh S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
* Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 50/2024/HS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 50/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Hoàng P và Đp
