|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày 04-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Dương Kim Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 20/6/1962;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 6/10. Họ và tên bố: Bùi Văn T (đã chết). Họ và tên mẹ: Giáp Thị Đ (đã chết). Anh chị, em ruột: Gia đình có bảy chị em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963. Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1987.
- Tiền án:
+ Bản án số 73/2016/HSST ngày 29/11/2016 của Tòa án nhân nhân huyện V, tỉnh Bắc Giang xử phạt Bùi Văn G 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2019 và nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/4/2017.
+ Bản án số 90/2019/HSST ngày 08/11/2019 của Tòa án nhân nhân huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt Bùi Văn G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Bản án số 189/1991/HSST ngày 20/12/1991 của Tòa án nhân nhân tỉnh Hà Bắc xử phạt Bùi Văn G 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù năm 1993. (Bản án không xác định giá trị tài sản, kết quả xác minh không có hồ sơ vụ án, không có hồ sơ thi hành án).
+ Bản án số 42/1993/HSST ngày 22/9/1993 của Tòa án nhân nhân huyện Lạng Giang xử phạt Bùi Văn G 30 (ba mươi) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/1995. ( Bản án không xác định giá trị tài sản, kết quả xác minh không có hồ sơ thi hành án).
+ Bản án số 100/1996/HSST ngày 13/6/1996 của Tòa án nhân nhân tỉnh Hà Bắc xử phạt Bùi Văn G 03 (ba) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/1998. (Bản án không xác định giá trị tài sản, kết quả xác minh không có hồ sơ thi hành án).
+ Ngày 10/6/2003, Bùi Văn G bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh B. Bị cáo chấp hành xong ngày 10/6/2004.
+ Bản án số 116/2005/HSST ngày 26/9/2005, của Tòa án nhân nhân tỉnh Bắc Giang xử phạt Bùi Văn G 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2012, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng (Bản án không bị kháng nghị, bị cáo không kháng cáo; Kết quả xác minh xác định Cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án đối với số tiền phạt bổ sung và án phí trên, đến nay đã hết thời hiệu thi hành).
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Cao Thị T2, sinh năm 1961(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn G là đối tượng có 02 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”.
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, do không có tiền tiêu và mua ma tuý sử dụng nên G chuẩn bị 01 chiếc kìm bằng sắt, tay cầm bằng cao su màu đỏ đen rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K4 - 4392 đi từ nhà ra đường Q để trộm cắp tài sản của các hộ dân ở hai bên đường. Khi đi đến bãi đất trống của nhà bà Cao Thị T2, sinh năm 1961, ở thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì nhìn thấy trên bãi đất có một chiếc cổng sắt được giăng lưới B40 của bà T2 nên G nảy sinh ý định trộm cắp lưới sắt trên. G dừng xe cạnh cổng sắt và quan sát không có người nên G dùng kìm cắt một đoạn lưới sắt để xuống đất và dùng kìm cắt một sợi dây sắt trên cánh cổng để bó đoạn lưới sắt trộm được đem đi tiêu thụ thì bị tổ tuần tra của Công an xã H, huyện L phát hiện và đưa về công an xã làm việc. Tại Công an xã H, G đã đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên và giao nộp vật chứng liên quan đến vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 98K4-4392, 01 đoạn lưới kim loại có trọng lượng 8,4 kg; 01 chiếc kìm bằng sắt, tay cầm bằng cao su trên tay cầm có dòng chữ “MEINFA” ( toàn bộ đồ vật, phương tiện trên đều cũ và đã qua sử dụng).
Ngày 21/02/2024, bà Cao Thị T2 phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Cơ quan Công an trình báo. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Bùi Văn G xác định nơi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả, G xác định đúng vị trí trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của bị hại.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị 01 tấm lưới sắt, loại lưới B40 có cân nặng 8,4 Kg, cũ đã qua sử dụng mua năm 2018, tại thời điểm tháng 02/2024 có giá là 58.800 đồng. Tổng giá trị cần định giá là 58.800 đồng (Năm mươi tám nghìn tám trăm đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Bùi Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Bùi Văn G từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, ngưới có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Bùi Văn G, sinh năm 1962 ở thôn H, xã H, huyện L đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Bùi Văn G có hành vi trộm cắp của bà Cao Thị T2 01 tấm lưới sắt, loại lưới B40 có cân nặng 8,4 Kg, trị giá 58.800 đồng (Năm mươi tám nghìn tám trăm đồng).
Hành vi của Bùi Văn G đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xoá án tích nay lại tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo đã bị xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022 chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục cải tạo, cần bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo bị nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Cao Thị T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Văn T3 đã nhận lại chiếc xe mô tô cho G mượn. Anh T3 và bà T2 không yêu cầu G phải bồi thường dân sự, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc kìm bằng sắt là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 98K4-4392 là của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (anh T3 là bạn G). Anh T3 cho G mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, G sử dụng để đi trộm cắp tài sản anh T3 không biết; 01 đoạn lưới kim loại có trọng lượng 8,4 Kg là tài sản của bà Cao Thị T2. Ngày 13/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với hành vi anh Nguyễn Văn T3 cho Bùi Văn G mượn chiếc chiếc xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 98K4-4392 để làm phương tiện đi lại. Sau đó G sử dụng để đi trộm cắp tài sản anh T3 không biết nên cơ quan điều tra không xử lý anh T3 là có căn cứ.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Văn G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý trách nhiệm dân sự, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Bùi Văn G 08 (T4) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng sắt.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Văn G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn G- TCTS
