|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ Tỉnh Bến Tre Bản án số: 50/2024/HNGĐ - ST Ngày: 03/5/2024 V/v: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Chì.
Bà Bùi Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Số nhà C, ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Số nhà C, ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại tòa án – chị Nguyễn Thị P trình bày:
Chị và anh Lê Văn V sống chung vợ chồng vào năm 2004, đến năm 2007 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T. Sống chung có sinh được 01 con chung tên Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005. Tài sản chung và nợ chung không có.
Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến thời gian gần đây giữa chị và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V thường xuyên chửi bới chị, còn nguyên nhân tại sao thì chị không biết. Chị và anh V đã sống ly thân đến nay gần 01 năm, anh V không hề gọi điện hay qua nhà để xin hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị. Chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị với anh V không thể nào hàn gắn lại được.
Nên nay, về hôn nhân chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn V, không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Về con chung tên Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành, nên chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên chị không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn V luôn vắng mặt trong các lần hòa giải, công khai chứng cứ. Còn theo nội dung đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/5/2024, anh Lê Văn V trình bày:
Về hôn nhân do anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị P. Còn trong trường hợp Tòa giải quyết cho ly hôn thì anh không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng, anh và chị P đã sống ly thân đến nay được 01 năm. Về con chung tên Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành, nên anh không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên anh không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng. Đương sự chấp hành đúng quy định các Điều 70, 71 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, chị P được ly hôn với anh Lê Văn V. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, chị P và anh V không có yêu cầu nên không xem xét. Về con chung tên Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: chị P và anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị P có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn V. Bị đơn anh Lê Văn V có nơi cư trú tại số nhà C, ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì xác định đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Chị P và anh V đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng theo quy định tại Điều 227, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Lê Văn V sống chung vợ chồng vào năm 2004, đến năm 2007 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/01/2007 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian sống chung, giữa chị P và anh V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị P và anh V đã sống ly thân đến nay 01 năm nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn lại được, nên chị P có yêu cầu ly hôn với anh V. Còn anh V cho rằng do anh còn thương vợ, con không muốn ly hôn, tuy nhiên anh V cũng thừa nhận anh và chị P đã sống ly thân với nhau đến nay 01 năm, chưa hàn gắn tình cảm lại được. Bên cạnh đó, qua xác minh đối với bà Nguyễn Ngọc N là mẹ ruột của chị P thì bà N cũng cho rằng trong thời gian chị P và anh V chung sống thường hay xảy ra mâu thuẫn, anh V thường hay chửi chị P nếu chị P không làm đúng ý anh V, mỗi lần vợ chồng cải nhau thì chị P đều gọi điện tâm sự, nói cho bà biết. Chị P và anh V đã sống ly thân với nhau được một thời gian nhưng cả hai vẫn không trở lại sống chung được. Lẽ đó, có căn cứ cho thấy trong thời gian sống chung giữa chị P và anh V đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị P và anh V đã sống ly thân đến nay 01 năm nhưng tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh V vẫn không hàn gắn lại được, điều này chứng tỏ cuộc sống hôn nhân giữa chị P và anh V đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên nay chị P có yêu cầu được ly hôn với anh V là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi ly hôn, chị P và anh V không yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[3] Về con chung: Chị P trình bày trong thời gian sống chung giữa chị P và anh V có sinh được 01 con chung tên Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005, con chung đã trưởng thành, chị P và anh V không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị P và anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị P và anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 177, 227, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 115 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P đối với anh Lê Văn V. Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Lê Văn V.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không đặt vấn đề xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
- - Về con chung: Lê Nhật L, sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành, nên không xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản chung: Chị P và anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị P và anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003682 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Như vậy án phí chị P đã nộp xong.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 50/2024/HNGĐ - ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P
