Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày: 25/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lỗ Thị Kiều Oanh

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Phúc Tuấn và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Minh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 344/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐHPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Đức M, sinh năm: 1992; tên gọi khác: không; nơi thường trú: số A, đường Đ, tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; thuê trọ tại: số C, ngõ A, đường T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa:10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh, tôn giáo, đảng phái: không; con ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: không; bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 20/10/2024, Vũ Đức M (là người sử dụng ma túy và không có nơi ở cố định) đi xe ôm grab từ phòng trọ tại số C, ngõ A đường T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đến khu vực vườn hoa H với mục đích tìm mua ma túy đá sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, M xuống xe đi bộ đến lề đường trước nhà số A đường Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Tại đây, M gặp và mua của người đàn ông không quen biết 01 (một) túi nilong ma túy đá, kích thước 02x02(cm), bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, với giá 800.000 đồng. Mua xong, M cầm túi nilong ma túy đá trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi M đi bộ đến khu vực trước chung cư S, phố C, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Q làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện, bắt quả tang; thu giữ trong lòng bàn tay trái của M 01 (một) túi nilong, kích thước 02x02 (cm), bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), niêm phong vật chứng. Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilong kích thước 02x02 (cm), bên trong có các hạt tỉnh thể màu trắng (nghỉ là ma túy).

Tại Kết luận giám định số 7634/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của Phòng K - C, kết luận: "Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,273gam".

Tại Cáo trạng số 336/CT-VKS-HĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Vũ Đức M về tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Đức M từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có chứa ma túy còn lại sau giám định.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận:

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 20/10/2024, tại khu vực trước chung cư S, phố C, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội Vũ Đức M đã có hành vi cất giấu trái phép 01 (một) túi nilong ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,273 gam để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Q kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có công với cách mạng; bị cáo có bà ngoại và bác ruột hiện đang được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng: đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Đức M, cán bộ công an phường Q đồng chí Phạm Anh T và giám định viên Nguyễn Thị T1. Xét thấy ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Vũ Đức M khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực lề đường trước nhà số A đường Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội ngày 20/10/2024. Ngoài lời khai của M không có tài liệu nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Vũ Đức M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 20/10/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Vũ Đức M, cán bộ công an phường Q đồng chí Phạm Anh T và giám định viên Nguyễn Thị T1.

    (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông)

  3. Án phí: buộc bị cáo Vũ Đức M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội.;
  • - VKSND TP. Hà nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Công an quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam số 2 – Công an TP. Hà Nội
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lỗ Thị Kiều Oanh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Đức M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger