Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI

Bản án số: 50/2025/HSST

Ngày: 24/06/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy
  • - Các hội thẩm: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và Bà Trần Thị Huệ
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây.
  • - Đại diện VKSND Thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây TP Hà Nội, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/HSST ngày 09 tháng 06 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/QĐXXHS ngày 10 tháng 06 năm 2025 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên Tòa đối với các bị cáo:

  1. Đặng Xuân Á, sinh năm 1980; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn B, xã N, huyện P, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Đặng Xuân H, sinh năm 1955 và bà Phùng Thị L1, sinh năm 1955; Vợ; Trần Hương L2, sinh năm 1988; Con: có 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự; không. Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Hải H1, sinh năm 1986; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn N, xã X, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Lê Mạnh T, sinh năm 1962 và bà Phùng Thị B, sinh năm 1960 Vợ: Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1989; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án; Tiền sự; không.

    Nhân thân;

    • Ngày 27/06/2013, bị Tòa án nhân dân, thị xã S xử 30 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
    • Ngày 30/10/2013, bị Tòa án nhân dân, thị xã S xử 24 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  3. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1986; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn T, xã T, huyện B TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Hoàng Văn K, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1960; Vợ: Phùng Thị P, sinh năm 1991; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  4. Phan Văn T1, sinh năm 1991; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn P, xã P, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Phan Văn N, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1949; Vợ: Giang Bích H3, sinh năm 2001; Con có 02 con lớn, sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, Tiền sự; không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  5. Phan Bá V, sinh năm 2001; ĐKNKTT: và chỗ ở; Xóm A, P, xã P, huyện B TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Phan Văn T2, sinh năm 1974, và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1975 vợ con chưa có;

    Bị cam hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  6. Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1980; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Thôn T, xã T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1950, và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1952. Vợ: Phùng Thị X, sinh năm 1986 Con: có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, Tiền sự; không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  7. Đinh Văn B2, sinh năm 1990; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Thôn G, xã K, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/2; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không. Con ông: Đinh Văn Q( đã chết) và bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1962 Vợ; Bùi Thị D, sinh năm 1990; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án; Tiền sự; không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  8. Nguyễn Xuân H5, sinh năm 1987; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Thôn S, xã K, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không. Con ông: Nguyễn Xuân M ( đã chết) và bà Đinh Thị H6, sinh năm 1964. Vợ: Đinh Thị H7, sinh năm 1990; Con: có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; Tiền sự; không.

    Bị can hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  9. Phùng Xuân H8, sinh năm 1989; ĐKNKTT; Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Phùng Trọng H9, sinh năm 1962 và bà Lưu Thị H10, sinh năm 1964; Vợ: Lê Thị H11, sinh năm 1989; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án; Tiền sự: không;

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/012025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trên cơ sở kết quả cuộc điều tra đã xác định được như sau:

Hồi 21 giờ 30 ngày 20/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S phát hiện, bắt quả tang các đối tượng bao gồm: Đặng Xuân Á, Lê Hải H1, Hoàng Văn Đ, Phan Văn T1, Phùng Xuân H8, Đinh Văn B2 và Nguyễn Hữu H4 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Tang vật thu giữ:

  • Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 12.440.000 đồng ( Mười hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng ) là tiền các bị can dùng để đánh bạc;
  • 01 bát sứ hình tròn màu trắng; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 04 quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài chắn ( là công cụ các bị can dùng để đánh bạc );
  • Thu giữ trên người Hoàng Văn Đ: 70.000 đồng ( Bảy mươi nghìn đồng ) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Zeno 10 màu trắng xanh;
  • Thu giữ trên người Nguyễn Hữu H4: 800.000 đồng ( T4 trăm nghìn đồng ) và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Glãy A13;
  • Thu giữ trên người Đặng Xuân Á: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo F11 màu đen;
  • Thu giữ trên người Lê Hải H1: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 màu đen;
  • Thu giữ trên người Phan Văn T1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh;
  • Thu giữ trên người Phùng Xuân H8: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen;
  • Thu giữ trên người Đinh Văn B2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20;

Tại Cơ quan điều tra các bị can khai nhận : Các bị can đều là công nhân Công ty B5. Tối ngày 20/01/2025, sau khi liên hoan tất niên tại Công ty các đối tượng Phan Bá V (sinh năm 2001), trú tại Xóm A P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội, Đặng Xuân Á ( sinh năm 1980), trú tại thôn B, xã N, huyện P, thành phố Hà Nội, Lê Hải H1 ( sinh năm 1986), trú tại thôn N, xã X, thị xã S, thành phố Hà Nội, Hoàng Văn Đ (sinh năm 1986), trú tại thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội, Phùng Xuân H8 ( sinh năm 1989), trú tại thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội, Đinh Văn B2 ( sinh năm 1990), trú tại thôn S, xã K, huyện B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hữu H4 ( sinh năm 1980), trú tại thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội và Phan Văn T1 ( sinh năm 1991), trú tại thông P, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội cùng tham gia đánh bạc tại phòng nghỉ cho nhân viên của Công ty cổ phần B5.

Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền và quy ước: Quy định đặt cược thấp nhất mỗi ván là 50.000 đồng, cao nhất thì không giới hạn tùy từng người tham gia đánh bạc. Về cách thức chơi, các bị can sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 quân vị hai mặt ( mặt trắng, mặt đỏ hoặc mặt đen, đỏ ). Người xóc cái ( C ) sẽ cho 04 quân bị vào đĩa, úp bát lên rồi dùng hai tay xóc lên, xóc xuống nhiều lần sau đó đặt xuống để mọi người đặt tiền chơi. Bên tay trái của người cầm cái là cửa lẻ, bên tay phải là cửa chẵn. Nếu người đặt cửa chọn đúng cửa đã đặt thì sẽ thắng người xóc cái và được người xóc cái trả số tiền bằng tiền cược trước khi mở bát. Ngược lại, nếu không đúng cửa thì người đặt cửa phải trả cho người cầm cái số tiền đã đặt. Trong quá trình đánh mọi người có thể tự đặt cược riêng với nhau (hay còn gọi là bán cửa).

Cửa lẻ: Nếu 01 quân vị màu đỏ và 03 quân vị màu trắng hoặc 01 quân vị màu trắng và 03 quân vị màu đỏ thì người cửa lẻ sẽ thắng bạc, người xóc cái sẽ phải trả tiền cho người đặt tiền cửa lẻ bằng số tiền họ đã đặt. Còn người xóc cái sẽ được toàn bộ số tiền mà người đặt cửa chẵn đã đặt.

Cửa chẵn: Nếu 02 quân vị màu đỏ và 02 quân vị màu trắng hoặc 04 quân vị màu đỏ hoặc 04 quân vị màu trắng thì người đặt cửa chẵn sẽ thắng bạc, người xóc cái sẽ phải trả tiền cho người đặt tiền cửa chẵn bằng số tiền họ đã đặt. Còn người xóc cái sẽ được toàn bộ số tiền mà người đặt cửa lẻ đã đặt.

Qúa trình đánh bạc, Á là người cầm xóc cái còn Lê Hải H1 là người đặt cược. Đánh được 02 ván thì Phan Bá V đi vào cùng tham gia đánh bạc. Khi V bắt đầu đánh bạc thì V là người cầm xóc cái, còn Á và H1 là người đặt cược. Đánh được khoảng 5-6 ván thì V thua hết số tiền 1.400.000 đồng ( một triệu bốn trăm nghìn đồng ) mang theo và đứng dậy đi về trước. Cùng lúc này, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Xuân H5, Đinh Văn B2, Phan Văn T1, Phùng Xuân H8 và Nguyễn Hữu H4 đến cùng tham gia đánh bạc. Lúc này, Đ là người cầm xóc cái, những người tham gia đánh bạc đặt cửa gồm có Á, H4, H5, B2, T1, Lê Hải H1 và Phùng Xuân H8. Ngồi đánh bạc được khoảng 05 phút thì H5 thua hết số tiền 300.000 đồng mang theo nên ra về trước. Trong lúc các bị can đang đánh bạc, thì anh Lương Văn C1 ( sinh năm 1981), trú tại 5 P, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội là công nhân của Công ty cổ phần bê tông đến nhưng không tham gia đánh bạc. Các bị can đánh bạc, không có người canh gác và không thu phế, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị xã S bắt quả tang.

Ngày 23/01/2025, Nguyễn Xuân H5 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sơn Tây để đầu thú về hành vi đánh bạc của bản thân.

Ngày 10/02/2025, Phan Bá V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sơn Tây để đầu thú về hành vi đánh bạc của bản thân.

Khi tham gia đánh bạc Đặng Xuân Á có khoảng 6.800.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc, Á đổi cho Đ 2.000.000 đồng ( chuyển từ tài khoản cá nhân, đổi lấy tiền mặt để đánh bạc. Số tiền còn lại là 4.800.000 đồng được Á sử dụng trực tiếp vào việc đánh bạc.

Khi tham gia đánh bạc Lê Hải H1 có khoảng 1.600.000 đồng. Qúa trình đánh bạc Hoàng thua hết số tiền mang theo. Sau đó, H1 chuyển từ tài khoản cá nhân sang tài khoản của Đ số tiền 2.000.000 đồng để đổi lấy tiền mặt và sử dụng tất cả số tiền này đánh bạc. Tổng số tiền H1 sử dụng để đánh bạc là 3.600.000 đồng. Khi bị bắt, H1 đang thua số tiền 1.400.000 đồng, số tiền 2.200.000 đồng còn lại H1 để trên chiếu bạc.

Khi tham gia đánh bạc Hoàng Văn Đ có khoảng 1.100.000 đồng. Quá trình đánh bạc thì Đ thua hết số tiền mang theo nên Đ đã chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Á 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc. Tổng số tiền Đ sử dụng đánh bạc là 3.100.000 đồng. Ngoài ra, trong quá trình đánh bạc thì B2 chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 500.000 đồng, Tân chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 1.000.000 đồng và Lê Hải H1 chuyển 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc.

Phan Văn T1 khi tham gia đánh bạc có khoảng 720.000 đồng. Quá trình đánh bạc Tân thua hết số tiền 720.000 đồng nên T1 đã chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ số tiền 1.000.000 đồng đổi lấy tiền mặt để đánh bạc. Tổng số tiền T1 sử dụng đánh bạc là 1.720.000 đồng.

Nguyễn Hữu H4 khi tham gia đánh bạc có khoảng 900.000 đồng. Số tiền này H4 sử dụng vào mục đích đánh bạc .

Phùng Xuân H8 khi tham gia đánh bạc có khoảng 200.000 đồng. Khi bị bắt, H8 đã thua hết số tiền trên.

Đinh Văn B2 khi tham gia đánh bạc có 200.000 đồng. Sau khi thua hết số tiền trên, B2 chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 500.000₫ để đổi lấy tiền mặt đánh bạc. Tổng số tiền B2 sử dụng để đánh bạc là 700.000 đồng. Khi bị bắt, B2 đã thua hết số tiền trên.

Nguyễn Xuân H5 khi tham gia đánh bạc H5 có 300.000 đồng. Sau khi thua hết số tiền trên H5 không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem, sau đó về phòng nghỉ của công nhân,

Phan Bá V khi tham gia đánh bạc V có khoảng 1.400.000. Quá trình đánh bạc V thua hết số tiền trên, sau đó không tham gia đánh bạc mà đi về nhà trước khi Công an bắt.

Tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc là 16.810.000 đồng

Ngày 27/03/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có Công an số 347 đến ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị cung cấp hồ sơ đăng ký, chủ tài khoản và sao kê lịch sử giao dịch việc chuyển tiền trên.

Ngày 02/4/2025, ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh S đã cung cấp thông tin chủ tài khoản và sao kê giao dịch chuyển tiền.

Khi bắt quả tang, Công an thu giữ của Hoàng Văn Đ số tiền 70.000đ và thu của Nguyền Hữu H12 800.000đ. Quá trình điều tra xác định số tiền này các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Đối với tài sản bị thu giữ là điện thoại của Hoàng Văn Đ, Phan Văn T1, Lê Hải H1, Đinh Văn B2 sử dụng chuyển tiền khi tham gia đánh bạc.

Ngày 29/4/2025 Hoàng Văn Đ đã tự nguyện nộp số tiền 3.500.000đ là tiền các bị can chuyển khoản khi đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra các bị can khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về tang vật chứng thu giữ khi bắt qua tang gồm : số tiền 12.440.000 đồng; 01 bát sứ hình tròn màu trắng; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 04 quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài chắn; Điện thoại thu giữ khi bắt quả tang được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 06/06/2025 của VKSND thị xã Sơn Tây, Hà Nội đã. Truy tố các bị cáo Đặng Xuân Á, Lê Hải H1 Văn Đ, Phan Văn T1, Phan Bá V, Nguyễn Hữu H4, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5, Phùng Xuân H8, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321- BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Sơn Tây giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị của các bị cáo

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Điều Bộ luật hình sự.

1/ Xử phạt; Lê Hải H1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. về tội “ Đánh bạc”

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự:

  • 2/ Xử Phạt; Đặng Xuân Á từ 25 đến 30 triệu đồng
  • 3/ Xử Phạt; Hoàng Văn Đ từ 25 đến 30 triệu đồng
  • 4/ Xử Phạt; Phan Văn T1 từ 25 đến 30 triệu đồng
  • 5/ Xử phạt; Phan Bá V từ 20 đến 25 triệu đồng
  • 6/ Xử phạt; Nguyễn Hữu H4 20 đến 25 triệu đồng
  • 7/ Xử phạt; Đinh Văn B2 20 đến 25 triệu đồng
  • 8/ Xử phạt; Nguyễn Xuân H5 từ 20 đến 25 triệu đồng
  • 9/ Xử phạt; Phùng Xuân H8 20 đến 25 triệu đồng

Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106, Điều 136; Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 bát sứ hình tròn màu trắng và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng và 04 quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài chắn;

Tịch thu phát mại sung công nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Của Hoàng Văn Đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Của Phan Văn T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Của Lê Hải H1 và 01 chiếc điện thoại di động sam sung của Đinh Văn B2 (dùng chuyển khoản tiền đánh bạc)

Trả lại cho các bị cáo; Nguyễn Hữu H4: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Trả lại cho Đặng Xuân Á 01 điện thoại OPPO 11; Trả lại bị cáo; Phùng Xuân H8; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản thu giữ xác định không liên quan đến vụ án;

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 16.810.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng). Là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an thị xã S và Viện Kiểm sát nhân dân thị xã S, thành phố Hà Nội đều được thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

[2] Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ 30 ngày 20/01/2025, tại phòng nghỉ của Công ty cổ phần B5, Đặng Xuân Á cùng Lê Hải H1, Hoàng Văn Đ, Phan Văn T1, Nguyễn Hữu H4, Phùng Xuân H8, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5 và Phan Bá V đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Đến khoảng 21 giờ 30 ngày 20/01/2025, thị bị Công an thị xã S bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.810.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng ); Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận. Truy tố các bị cáo; Đặng Xuân Á, Lê Hải H1 Văn Đ, Phan Văn T1, Phan Bá V, Nguyễn Hữu H4, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5, Phùng Xuân H8, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321- BLHS.

Xét tính chất của vụ án của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Tệ nạn cờ bạc cũng là mầm mống phát sinh nhiều các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Do vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và làm bài học cảnh tỉnh chung cho các bị cáo.

Trong vụ án các bị cáo không có sự phân công cụ thể, có nhiều bị cáo cùng tham gia do vậy cần phải đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

Xét vai trò tham gia của từng bị cáo HĐXX thấy rằng :

Khi tham gia đánh bạc Đặng Xuân Á có khoảng 6.800.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc, Á đổi cho Đ 2.000.000 đồng ( chuyển từ tài khoản cá nhân, đổi lấy tiền mặt để đánh bạc. Số tiền còn lại là 4.800.000 đồng được Á sử dụng trực tiếp vào việc đánh bạc.

Khi tham gia đánh bạc Lê Hải H1 có khoảng 1.600.000 đồng. Qúa trình đánh bạc Hoàng thua hết số tiền mang theo. Sau đó, H1 chuyển từ tài khoản cá nhân sang tài khoản của Đ số tiền 2.000.000 đồng để đổi lấy tiền mặt và sử dụng tất cả số tiền này đánh bạc. Tổng số tiền H1 sử dụng để đánh bạc là 3.600.000 đồng. Khi bị bắt, H1 đang thua số tiền 1.400.000 đồng, số tiền 2.200.000 đồng còn lại H1 để trên chiếu bạc.

Khi tham gia đánh bạc Hoàng Văn Đ có khoảng 1.100.000 đồng. Quá trình đánh bạc thì Đ thua hết số tiền mang theo nên Đ đã chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Á 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc. Tổng số tiền Đ sử dụng đánh bạc là 3.100.000 đồng. Ngoài ra, trong quá trình đánh bạc thì B2 chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 500.000 đồng, Tân chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 1.000.000 đồng và Lê Hải H1 chuyển 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc.

Phan Văn T1 khi tham gia đánh bạc có khoảng 720.000 đồng. Quá trình đánh bạc Tân thua hết số tiền 720.000 đồng nên T1 đã chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ số tiền 1.000.000 đồng đổi lấy tiền mặt để đánh bạc. Tổng số tiền T1 sử dụng đánh bạc là 1.720.000 đồng.

Nguyễn Hữu H4 khi tham gia đánh bạc có khoảng 900.000 đồng. Số tiền này H4 sử dụng vào mục đích đánh bạc

Phùng Xuân H8 khi tham gia đánh bạc có khoảng 200.000 đồng. Khi bị bắt, H8 đã thua hết số tiền trên.

Đinh Văn B2 khi tham gia đánh bạc có 200.000 đồng . Sau khi thua hết số tiền trên, B2 chuyển từ tài khoản cá nhân sang cho Đ 500.000₫ để đổi lấy tiền mặt đánh bạc. Tổng số tiền B2 sử dụng để đánh bạc là 700.000 đồng. Khi bị bắt, B2 đã thua hết số tiền trên.

Nguyễn Xuân H5 khi tham gia đánh bạc H5 có 300.000 đồng. Sau khi thua hết số tiền trên H5 không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem, sau đó về phòng nghỉ của công nhân,

Phan Bá V khi tham gia đánh bạc V có khoảng 1.400.000. Quá trình đánh bạc V thua hết số tiền trên, sau đó không tham gia đánh bạc mà đi về nhà trước khi Công an bắt.

Tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc là 16.810.000 đồng

Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền các bị cáo cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt các bị cáo đều không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo để các bị cáo trở thành công dân tốt ;

Đối với bị Lê Hải H1 có nhân thân sấu từ năm 2013 đã được xóa; Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi địa phương mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự các bị cáo: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

Về xử lý vật chứng;

Tịch thu tiêu hủy; 01 bát sứ hình tròn màu trắng và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng và 04 quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài chắn; Xét thấy, đây là tang vật vụ án cần tịch thu tiêu huỷ;

Tịch thu phát mại sung công nhà nước; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Của Hoàng Văn Đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Của Phan Văn T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Của Lê Hải H1 và 01 chiếc điện thoại di động sam sung của Đinh Văn B2 (dùng chuyển khoản tiền đánh bạc) nên cần tịch thu phát mại sung công nhà nước;

Trả lại cho các bị cáo; Nguyễn Hữu H4: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Trả lại cho Đặng Xuân Á 01 điện thoại OPPO 11; Trả lại bị cáo; Phùng Xuân H8; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản thu giữ xác định không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho các bị cáo;

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 16.810.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng). Là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo; Đặng Xuân Á, Lê Hải H1 Văn Đ, Phan Văn T1, Phan Bá V, Nguyễn Hữu H4, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5, Phùng Xuân H8, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321- BLHS.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Điều Bộ luật hình sự;

1/ Xử phạt; Lê Hải H1; 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án;

Giao bị cáo; Lê Hải H1 cho UBND, xã X, thị xã S TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự:

  • 2/ Xử Phạt; Đặng Xuân Á; 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng)
  • 3/ Xử Phạt; Hoàng Văn Đ; 23.000.000đ ( Hai mươi ba triệu đồng)
  • 4/ Xử Phạt; Phan Văn T1; 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng)
  • 5/ Xử phạt; Phan Bá V; 21.000.000 đ ( Hai mươi mốt triệu đồng)
  • 6/ Xử phạt; Nguyễn Hữu H4; 20.000.000 đ ( Hai mươi triệu đồng)
  • 7/ Xử phạt; Đinh Văn B2; 20.000.000 đ ( Hai mươi triệu đồng)
  • 8/ Xử phạt; Nguyễn Xuân H5; 20.000.000 đ ( Hai mươi triệu đồng)
  • 9/ Xử phạt; Phùng Xuân H8; 20.000.000 đ ( Hai mươi triệu đồng)

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy; 01 bát sứ hình tròn màu trắng và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng và 04 quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài chắn;

Tịch thu phát mại sung công nhà nước; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu đen, có ốp lưng silicon, số Imei 1:865924045211310, số Imei 2:865924045211302, bên trong có lắp sim số:0977344316 ( Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax vỏ màu xanh, số Imei; 353903100715117, số Imei 2; 353903100620945, bên trong lắp 01 sim nhà mạng VietteI số 09684444291 ( Điện thoại cũ đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu đen, số Imei 359669601434326, bên trong có lắp sim số 0325422111 ( Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Zeno 10 màu trắng xanh, Imei 1: 869933062117538, Imei 2:869933062117520, bên trong có lắp sim số: 0982242986 và 0971764198 ( Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng)

Trả lại cho các bị cáo; Nguyễn Hữu H4: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Glaxy A13, số Imei 1; 354690577929524, Imei 2: 355864867929523, bên trong lắp sim số:0973473580; (Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo; Phùng Xuân H8; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax, màu đen, số Imei 1: 357271097937425, số Imei 2:357271097795898, bên trong có lắp sim số 0973661893; Tại thời điểm kiểm tra điện thoại bị khóa không kiểm tra được imai (Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo; Đinh Văn B2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 FE, số Imei 1:355728260164253, số Imei 2:356203780164257, bên trong lắp sim số 0967770785 ( Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng); Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH2531 vỏ màu tím số Imei 1: 861042060697810, số I 2:861042060697802, bên trong lắp sim 1 số thuê bao: 0979948455, sim 2 số thuê bao:0336576914 (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng) (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/06/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an T và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Sơn Tây)

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 16.810.000 đồng ( Mười sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng). Là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước (theo giấy ủy nhiệm chi số 111 lập ngày do Công an thị xã S nộp vào kho bạc nhà nước thị xã S).

Về án phí: Áp dụng khoản 1,2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đặng Xuân Á, Lê Hải H1 Văn Đ, Phan Văn T1, Phan Bá V, Nguyễn Hữu H4, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5, Phùng Xuân H8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quốc H13

Đối với bị Lê Hải H1 có nhân thân từ năm 2013 đã được xóa án tích; Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi địa phương mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKSND TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - THA Dân sự TX Sơn Tây;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Quốc Huy

Biên bản nghị án

Vào hồi 10 giờ 00 ngày 19 tháng 01 năm 2022

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân, thị xã S, thành phố Hà Nội

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồn có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Quốc H13
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh N1, và Bà Phùng Thị Ngọc H14

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133 TLST/HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo;

  1. Khuất Thị B3, sinh năm 1957; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn T, xã T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Khuất Văn T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1936; Chồng; Chu Xuân H15, sinh năm 1955; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự; không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Thị T7, sinh năm 1972; ĐKNKTT: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở hiện nay; Thôn H, xã V, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Lê Văn T8 (đã chết) và bà Cao Thị T9, sinh năm 1938 Chồng: Phạm Văn H16 ( đã chết); con: Có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án; Tiền sự; không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú . Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  3. Khuất Đình K1, sinh năm 1981; ĐKNKTT và chỗ ở; Thôn T, xã T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Khuất Đặng T10 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H17, sinh năm 1951; Vợ: Trương Thị Thúy H18, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 23/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  4. Bùi Mạnh H19, sinh năm 1950; ĐKNKTT: Cụm H, thị trấn P, huyện P, TP Hà Nội; Chỗ ở hiện nay; Số B phố C, phường S, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Bùi Mạnh T11 ( đã chết), và bà Nguyễn Thị P1 ( đã chết); Vợ: Cấn Thị Thuyết C2, sinh năm 1950; Con: chưa; Tiền án, Tiền sự; không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 23/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Thị H20, sinh năm 1985; ĐKNKTT: và chỗ ở; Thôn T, xã T, thị xã S TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Nguyễn Văn T12, sinh năm 1957, và bà Phùng Thị L1, sinh năm 1960. Chồng: Khuất Duy V1, sinh năm 1984; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018, Nhân thân: Ngày 23/01/2017 bị Công an thị xã S xử phạt 1.500.000₫ về hành vi đánh bạc ( đã hết thời hiệu). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  6. Lê Hoàng C3, sinh năm 1968; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Thôn H, xã V, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông Lê Quang H21 ( đã chết), và bà Ngô Bích H22, sinh năm 1940. Vợ: Kiều Thị H23, sinh năm 1976( đã ly hôn) Con: có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000. Nhân thân: ngày 18/04/2012 Toà án nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 17 tháng 22 ngày về tội đánh bạc( đã chấp hành xong ngày 10/10/2013). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  7. Hà Thị L5, sinh năm 1956; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Số B ngõ A đường T, phường T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hóa: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Hà Văn H24( đã chết) và bà Nguyễn Thị H25 ( đã chết) Chồng; Nguyễn Đức C4 ( đã chết); Con: có 02 con, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1983. Tiền án; Tiền sự; không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa ( Đảng viên ĐCSVN)
  8. Phạm Thị T13, sinh năm 1964; ĐKNKTT: Chỗ ở hiện nay; Số I phố C, phường S, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Phạm Văn T14( đã chết) và bà Đỗ Thị B4 ( đã chết). Chồng: Nguyễn Hữu T15, sinh năm 1962; Con: có 02 con lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1989 Nhân thân: Ngày 07/04/2008 bị Công an thành phố S ( nay là Công an thị xã S xử phạt 1.000.000₫ ( đã hết thời hiệu). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  9. Phạm Văn C5, sinh năm 1966; ĐKNKTT: xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: tổ dân phố B, phường T, thị xã S, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Phạm Ngọc L6 (đã chết) và bà Trần Thị N2, sinh năm 1922; Vợ: Khuất Thị Ngọc O1, sinh năm 1969; Con: có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến ngày 28/9/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Căn cứ vào Điều 299, và Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng tại phiên tòa các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Tuyên bố các bị cáo: Khuất Thị Bích phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Biểu quyết 3/3.

Tuyên bố Lê Thị T7, Khuất Đình K1, Bùi Mạnh H19, Nguyễn Thị H20, Lê Hoàng C3, Hà Thị L5, Phạm Thị T13, Phạm Văn C5 phạm tội “Đánh bạc”.

Biểu quyết 3/3.

Căn cứ vào điểm khoản 1; Điều 322; điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự:

1/ Xử phạt; Khuất Thị B3 18 ( mười tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Khuất Thị B3 cho UBND xã T, thị xã S TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s,x khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự:

2/ Xử phạt; Lê Hoàng C3 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Hoàng C3 cho UBND xã V, huyện B TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự:

3/ Xử phạt; Phạm Thị T13 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thị T13 cho UBND phường S, thị xã S TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4/ Xử phạt; Nguyễn Thị H20 09 ( chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H20 cho UBND xã T, thị xã S TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 điểm i,s khoản 1 Điều 51 Điều 36 Bộ luật hình sự:

5/ Xử phạt; Lê Thị T7 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 08 ngày tạm giữ bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ mức hình phạt còn phải chấp hành là 11 tháng 6 ngày.

Giao bị cáo Lê Thị T7 cho UBND, xã V, huyện B Hà Nội giám sát giáo dục. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo của các bị cáo được tính từ ngày UBND, xã V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự không khấu trừ một phần thu nhập theo khoản 3 Điều 36 BLHS

6/ Xử phạt; Khuất Đình K1 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ mức hình phạt còn phải chấp hành là 11 tháng 21 ngày.

Giao bị cáo Khuất Đình K1 cho UBND, xã T, thị xã S Hà Nội giám sát giáo dục. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo của các bị cáo được tính từ ngày UBND, xã T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự không khấu trừ một phần thu nhập theo khoản 3 Điều 36 BLHS

7/ Xử phạt; Bùi Mạnh H19 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ mức hình phạt còn phải chấp hành là 11 tháng 21 ngày.

Giao bị cáo Bùi Mạnh H19 cho UBND, phường S, thị xã S Hà Nội giám sát giáo dục. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo của các bị cáo được tính từ ngày UBND, phường S nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự không khấu trừ một phần thu nhập theo khoản 3 Điều 36 BLHS

8/ Xử phạt; Phạm Văn C5 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 08 ngày tạm giữ bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ mức hình phạt còn phải chấp hành là 11 tháng 6 ngày.

Giao bị cáo Phạm Văn C5 cho UBND, phường T, thị xã S TP Hà Nội giám sát giáo dục. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo của bị cáo được tính từ ngày UBND, phường T Trầm nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự không khấu trừ một phần thu nhập theo khoản 3 Điều 36 BLHS

Biểu quyết 3/3.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự:

9/ Xử phạt; Hà Thị L5 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng chẵn)

Biểu quyết 3/3.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 BLTTHS

Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước; 01 điện thoại Viettel màu xám, số Imeil; 351580075455549, số Imei 2:351580075455556, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galay A50, màu đen, I; 356646100838317, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại OPPO A15S, màu xanh, Imei 865787058943578 điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 105, màu đen, Imei 3566005085614997 điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy; 04 Bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồn 52 quân bài; 02 hộp nhựa; 02 chiếu cói đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2021 giữa Công an Thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Sơn Tây)

Trong số tiền thu giữ 29.460.000đ, tuyên trả cho bị cáo Khuất Thị Bích 240.000đ; Tịch thu sung quỹ 29.220.000đ ( Hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng chẵn) (theo giấy ủy nhiệm chi số 111 lập ngày 07/12/2021 do Công an thị xã S nộp vào kho bạc nhà nước thị xã S).

Biểu quyết 3/3.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo; Khuất Thị B3, Lê Thị T7, Khuất Đình K1, Bùi Mạnh H19, Nguyễn Thị H20, Lê Hoàng C3, Hà Thị L5, Phạm Thị T13, Phạm Văn C5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào lúc 10 giờ 45 ngày 19 tháng 01 năm 2022

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe cùng ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quốc Huy

KẾT LUẬN

Khoảng 21 giờ 30 ngày 20/01/2025, tại phòng nghỉ của Công ty cổ phần B5, Đặng Xuân Á cùng Lê Hải H1, Hoàng Văn Đ, Phan Văn T1, Nguyễn Hữu H4, Phùng Xuân H8, Đinh Văn B2, Nguyễn Xuân H5 và Phan Bá V đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 16.810.000 đồng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI về tội đánh bạc

  • Số bản án: 50/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger