|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 16/12/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Ngọc Mạnh
- Ông Sần Thanh Hải
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/12/1989 tại xã C, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Hồng P (đã chết) và bà Vàng Thị S (sinh năm 1961). Gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là con lớn nhất.
Bị cáo có vợ thứ nhất là Lù Thị P1, sinh năm 1990 (đã ly hôn) năm 2016; vợ thứ hai là Tẩn Khé M (đã ly hôn năm 2022); Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 24/2023/QĐ – TA ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng đến ngày 26/6/2024 chấp hành xong (chưa được xóa tiền sự).
Bị cáo Nguyễn Xuân T bị bắt tạm giam từ ngày 10/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị Thúy N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Vàng A C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/9/2025, Công an xã T, tỉnh Lào Cai phối hợp với Trạm y tế xã Tả Van, tiến hành kiểm tra việc chấp hành quy định của người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túyvới Nguyễn Xuân T (sinh năm 1989; trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lào Cai), theo quyết định số 126/QĐ- UBND ngày 27/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã T từ ngày 27/6/2024 đến ngày 27/6/2026. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể, Nguyễn Xuân T dương tính với ma túy Morphine H. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Xuân T, tiến hành niêm phong theo quy định trước sự chứng kiến của anh Vàng A C (sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai) và trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh P.
Về hành vi sử dụng chất ma túy và nguồn gốc ma túy Nguyễn Xuân T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 02/9/2025, T đi bộ một mình từ nhà đến thôn B, xã T với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân, khi đến khu vực bãi đá cổ thuộc thôn Bản Pho, xã T thì gặp và nhờ một người đàn ông khoảng 40 - 50 tuổi, mặc quần áo tối màu, cao khoảng 1,5m đi mua hộ một gói ma túy giá 100.000đồng, sau đó T sử dụng hết gói ma túy trên bằng hình thức hít.
Tại kết luận giám định số 1802/KL - KTHS ngày 09/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Morphine, C1.
Cáo trạng số 09/CT-VKSKV7 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố Nguyễn Xuân T về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định (đã sử dụng hết), sau khi lấy mẫu giám định cơ quan giám định tiêu hủy theo quy định, không trả lại cho cơ quan trưng cầu. Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đối với người đàn ông khoảng 40- 50 tuổi đã đi mua ma túy cho Nguyễn Xuân T. Ngoài lời khai của bị cáo ra, không có tài liệu gì khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được, vì vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, Điều luật Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Xuân T là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, bị cáo đã không kiềm chế được ham muốn của bản thân nên đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xét nghiệm và tại cơ quan điều tra bị cáo đã chấp hành, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 02 năm tù, để bị cáo có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, sống thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 02/9/2025, Nguyễn Xuân T đã có hành vi sử dụng ma túy Heroine bằng hình thức hít, đến ngày 08/9/2025, Công an xã T, tỉnh Lào Cai phối hợp với Trạm y tế xã Tả Van, tiến hành kiểm tra việc chấp hành quy định của Nguyễn Xuân T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túyKết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể, Nguyễn Xuân T dương tính với ma túy Morphine. Tại kết luận giám định số 1802/KL - KTHS ngày 09/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định tìm thấy loại M1, C1. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố Nguyễn Xuân T về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo nhận thức được ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội. Hậu quả, tác hại do ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội và an ninh trật tự của địa phương, làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại trung tâm 12 tháng đến ngày 26/6/2024 chấp hành xong (chưa được xóa tiền sự). Bị cáo là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Nguyễn Xuân T để răn đe, phòng ngừa chung và đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, cần chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 02 năm tù. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người nghiện ma túy đã đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại trung tâm, bị cáo có điều kiện để cai nghiện, chữa bệnh, được học tập và biết rõ tác hại của ma túy. Đến ngày 26/6/2024 chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc (chưa được xóa tiền sự), bị cáo trở về địa phương sinh sống, thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túynhưng bị cáo đã không chịu rèn luyện, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy mức hình phạt người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo là nhẹ, chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
[6] Về vật chứng: Mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định (đã sử dụng hết), sau khi lấy mẫu giám định cơ quan giám định tiêu hủy theo quy định, không trả lại cho cơ quan trưng cầu. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với người đàn ông khoảng 40 - 50 tuổi đi mua ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo ra, không có tài liệu gì khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 10/9/2025.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng Thị Thu Trang |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI về vụ án hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Xuan Th phạm tội sửu dụng trái phép chất ma túy
