Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày: 27/6/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Minh - Giáo viên nghỉ hưu,

Bà Đồng Thị Mây - Giáo viên trường Tiểu học thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lường Văn L, sinh ngày 26/3/2008 tại huyện T, tỉnh Sơn La. (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi, 11 tháng, 19 ngày).

Nơi đăng ký thường trú: bản Cát, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn N (đã chết) và bà: Lường Thị B.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/4/2025, Lường Văn L có hành vi lợi dụng sơ hở chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 15G1-922.54 của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 ở khu đô thị Q - Tổ C - Thủy Đường - T - Hải Phòng. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đang xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

  1. Trần Minh L1, sinh ngày 17/10/2008 tại huyện K, tỉnh Hải Dương. (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi, 5 tháng).

Nơi đăng ký thường trú: khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký tạm trú và nơi ở hiện nay: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn D và bà Nguyễn Thị Mai H1.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1982. (Đều có mặt)

Nơi cư trú: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Lê Thị Thu H2- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

- Đại diện Đoàn TNCSHCM xã K, huyện K: Bà Trần Thị Thu T - Bí thư Đoàn (Vắng mặt).

- Đại diện Đoàn TNCSHCM phường T, thành phố H: Ông Bùi Quang T1- Bí thư Đoàn (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2024, Lường Văn L quen biết Trần Minh L1 do thường xuyên cùng chơi game tại quán “SkyNet” ở xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau đó, L nhiều lần đến chơi và ngủ tại nhà L1 ở thôn Q, xã K nên biết có 01 két sắt để trong phòng ngủ của bố, mẹ của L1 là anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị Mai H1. Đêm ngày 16/3/2025, khi đang chơi game tại quán “SkyNet”, do không có tiền chi tiêu nên L và L1 bàn bạc, thống nhất lợi dụng lúc không có ai ở nhà sẽ cậy phá két sắt để trộm cắp tiền của anh D, chị H1. Khoảng 14 giờ ngày 17/3/2025, L cùng L1 về nhà L1. Lúc này không có ai ở nhà, cổng không khóa.

L1 và L đi vào rồi khép cổng lại. Lượng lấy chìa khóa mở cửa nhà, rút nguồn điện camera an ninh của gia đình, rồi cả hai đến vị trí để két sắt màu xám, nhãn hiệu Việt Tiệp, kích thước (68x42x32)cm được che phủ bên ngoài bằng 01 chiếc chăn màu xanh. Sau đó, L1 và L đến phòng kho chứa đồ cạnh phòng ngủ lấy 01 chiếc búa và 01 chiếc rìu bằng kim loại. L1 cầm rìu cho lưỡi rìu vào khe giữa cửa và thân két, L cầm búa đập nhiều nhát vào phần đầu rìu. Một lúc sau cánh cửa két bung ra, bên trong két có một số giấy tờ và 01 chiếc hộp bằng kim loại có khóa. L1 cầm nghiêng chiếc hộp kim loại để L dùng rìu cậy phá, lấy được một xếp tiền mệnh giá 500.000 đồng. Lá tiếp tục dùng rìu cậy phá ngăn trên của két, L1 cho tay vào lấy ra 01 chiếc ví da màu đỏ và lấy một xếp tiền mệnh giá 500.000 đồng bên trong ví. Sau đó, L và L1 dọn dẹp phòng ngủ, phủ chăn lên két sắt, cất búa và rìu vào phòng kho, ra khỏi nhà và khóa cửa lại. Lượng kiểm đếm số tiền chiếm đoạt được tổng là 31.500.000 đồng, L1 đưa cho L 15.500.000 đồng, L1 giữ 16.000.000 đồng. Cả hai cùng chơi game tại quán “SkyNet” đến khoảng 07 giờ 45 phút ngày 18/3/2025 thì L1 đưa hết cho L giữ hộ 16.000.000 đồng rồi đi làm. Lá sử dụng chi tiêu cá nhân hết toàn bộ số tiền L và L1 chiếm đoạt được.

Sáng ngày 18/3/2025, anh D và chị H1 phát hiện két sắt đã bị cậy phá và bị mất toàn bộ số tiền tiết kiệm của gia đình để trong két nên ngày 19/3/2025 đã trình báo Công an xã K. Cùng ngày, cơ quan Công an đã khám nghiệm hiện trường, quản lý 01 búa bằng kim loại, dài 39cm, phần cán bằng gỗ dài 34,5cm, lưỡi búa bằng kim loại dài 4,5cm; 01 rìu bằng kim loại, dài 32cm, phần cán kim loại dài 25cm, lưỡi rìu kim loại dài 7cm (Lá và L1 sử dụng làm công cụ phạm tội); 01 két sắt (bị hư hỏng) và 01 hộp kim loại có đặc điểm nêu trên. Ngày 25/3/2025, Công an xã K bàn giao vật chứng, tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 19/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: Két sắt nêu trên bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 413.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKSKT ngày 02/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lường Văn L và Trần Minh L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo L đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa của các bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo L từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù, bị cáo L1 từ 6 tháng tù đến 8 tháng tù cho hưởng án treo.

Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, không yêu cầu về số tiền 31.500.000 đồng mà các bị cáo đã chiếm đoạt và không yêu cầu nhận lại 1 két sắt, 1 hộp kim loại, 1 chiếc búa, 1 chiếc rìu.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lường Văn L và Trần Minh L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với L,

Xử phạt bị cáo L từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/5/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 124 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với L1,

Xử phạt bị cáo L1 từ 7 tháng tù đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Minh L1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 1 chiếc búa bằng kim loại, 1 rìu bằng kim loại, 1 két sắt loại chống cháy, 1 hộp kim loại rỗng.

Về án phí: áp dụng Điều 136 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo L được miễn án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Lường Văn L và Trần Minh L1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 17/3/2025, tại gia đình anh Trần Văn D, chị Nguyễn Thị Mai H1 ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Lường Văn L và Trần Minh L1 có hành vi dùng búa, rìu bằng kim loại cậy phá két sắt, lén lút chiếm đoạt của anh D, chị H1 số tiền 31.500.000 đồng.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút phá két sắt để chiếm đoạt số tiền 31.500.000 đồng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3.1]. Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo đều là người thực hành tích cực, giúp sức cho nhau. Tuy nhiên, bị cáo L là người hưởng lợi toàn bộ số tiền chiếm đoạt nên giữ vai trò cao hơn bị cáo L1.

[3.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Mặc dù bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo đang bị điều tra về hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn khác nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo L1 là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[3.3]. Các bị cáo có hành vi đập phá làm hư hỏng két sắt, gây thiệt hại trị giá 413.000 đồng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 23/5/2025, Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lường Văn L và Trần Minh L1 theo quy định của pháp luật.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo chiếm đoạt số tiền 31.500.000 đồng và bị cáo L đã sử dụng hết. Tuy nhiên, bị hại là anh D và chị H1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền trên nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng: 1 chiếc búa, 1 chiếc rìu là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị, 1 chiếc két sắt, 1 chiếc hộp kim loại rỗng không còn giá trị và bị hại không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7]. Về án phí: các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo L là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lường Văn L,

khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 124 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với cáo Trần Minh L1,

  1. Tuyên bố: các bị cáo Lường Văn L và Trần Minh L1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. Xử phạt: bị cáo Lường Văn L 1 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/5/2025.

Xử phạt bị cáo Trần Minh L1 9 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2025.

Giao bị cáo Trần Minh L1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  1. Về các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu và tiêu hủy 1 chiếc búa bằng kim loại, 1 rìu bằng kim loại, 1 két sắt loại chống cháy, 1 hộp kim loại rỗng. (Đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H và Chi cục THADS huyện K)

  1. Về án phí: bị cáo Lường Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Minh L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn L và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger