Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận và ông Phạm Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan O - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Trọng A

sinh năm 1991 tại tỉnh Ninh Bình.

Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ B, đường C, phố Y, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc T và bà Hà Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29/9/2024 đến ngày 08/10/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Hoài N sinh năm 1959; nơi cư trú: thôn H, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 29/9/2024, khi Trọng A đang ở nhà tại phố Y, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình thì có người tên T1 ở huyện Y (là bạn của A nhưng không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) có gọi qua ứng dụng Messenger tên “Bắc Nam” nói: “Tao có một trăm năm mươi nghìn đồng, mày có tiền không tao với mày làm túi về chơi”. Do trước đó đã nhiều lần sử dụng ma tuý cùng với nhau nên Trọng A hiểu ý là T1 rủ góp tiền mua ma tuý về để sử dụng, Trọng A nói: “Tao có một trăm nghìn đồng”, T1 nói: “Vậy đến Viện Sản Nhi tao đưa tiền cho mà đi lấy”. Sau khi nghe điện xong, Trọng A gọi cho một người phụ nữ qua ứng dụng zalo tên “Vũ C” hỏi mua 250.000 đồng ma tuý, người này đồng ý và hẹn ra khu vực phía sau trường Đại học H thuộc xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Trọng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B2-378.05 đi từ nhà đến cổng Viện Sản Nhi thuộc phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình gặp T1. Tại đây T1 đưa cho Trọng A số tiền 150.000 đồng. Trọng A cầm tiền và bỏ trong túi quần cùng với số tiền 100.000 đồng của mình và tiếp tục điều khiển xe một mình đi mua ma túy. Đến nơi hẹn ở khu vực phía sau trường Đại học H thuộc xã N, thành phố N (nay là thành phố H) gặp chị C ở đó. Trọng A đưa cho chị C số tiền 250.000 đồng, người này cầm tiền rồi chỉ tay về gốc cây duối gần đó nói: “Đồ chị để trong túi màu hồng”. Trọng A đi bộ đến vị trí mà C vừa chỉ thấy có 01 túi nilon màu hồng, nhặt lên nhìn thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng viền xanh trong cùng chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định đây là túi ma túy nên Trọng A cầm trên tay trái đi bộ ra xe để về cùng T1 sử dụng thì gặp tổ công tác công an xã N, thành phố N (nay là thành phố H) đang làm nhiệm vụ tại khu vực thấy Trọng A có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Do sợ bị phát hiện nên Trọng A đã thả từ tay trái xuống đường gần vị trí đang đứng một túi nilon màu hồng. Tổ công tác đã yêu cầu Trọng A nhặt lên để kiểm tra phát hiện bên trong túi nilon màu hồng có 01 túi nilon màu trắng, viền mép màu xanh kích thước (1x1,5) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, đồng thời Trọng A khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá vừa mua được của một người phụ nữ tên C không quen biết về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 01 túi nilon màu trắng, viền mép màu xanh, kích thước (x1,5) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng niêm phong vào trong phong bì thư dán kín theo quy định và đưa Trọng A về trụ sở Công an xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Vũ Trọng A 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B2-378.05 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Xiaomi Hyoer OS, màu đen, lắp sim số 0969.062.120.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Vũ Trọng A có khối lượng là 0,13 gam được cho vào túi nilon, ký hiệu M1 gửi giám định để xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 841/KL-KTHS-MT ngày 07/10/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1311 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Trong quá trình điều tra xác định từ 08/2003 đến tháng 9/2023 Vũ Trọng A được cấp phát thuốc tại trạm Y tế phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình với chuẩn đoán động kinh cơn lớn toàn thể G40.6. Từ 17/01/2024 đến 29/08/2024 được khám và được cấp thuốc điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh Bệnh viện tâm thần tỉnh N với chuẩn đoán G40.6. Ngày 11/11/2024 Cơ quan điều tra đã trưng cầu V, giám định tâm thần đối với Vũ Trọng A.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 24/KLGĐ ngày 24/01/2025 của V kết luận: Trước trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 29/09/2024 và tại thời điểm giám định, bị cáo Vũ Trọng A có hội chứng nghiện các chất gây ảo giác/ Động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F16.2/G40.6. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố thành phố H đã đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư quản lý để giải quyết trong cùng vụ án: 01 phong bì niêm phong số 841//KL-KTHS-MT mẫu vật hoàn trả gồm M1= 0,0936 gam là ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong ký hiệu Al niêm phong túi ni lông màu hồng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐT niêm phong điện thoại di động; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2 niêm phong phong bì, vỏ túi ni lông ban đầu.

Trả lại cho chủ sở hữu là anh Vũ Thế T2 sinh năm 1999 (là em trai của Trọng A), trú tại phố Y, phường N, thành phố H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B2-378.05 thu giữ của Vũ Trọng A.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSNDTPHL ngày 24 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Vũ Trọng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • - Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Trọng A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi 09 ngày tạm giữ từ ngày 29/9/2024 đến ngày 08/10/2024
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 841//KL-KTHS-MT mẫu vật hoàn trả gồm M1= 0,0936 gam là ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong ký hiệu Al niêm phong túi ni lông màu hồng thu giữ của Vũ Trọng A; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2 niêm phong phong bì, vỏ túi ni lông ban đầu thu giữ của Vũ Trọng A.
  • + Tịch sung quỹ Nhà nước 01 phong bì niêm phong ký hiệu Al niêm phong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Xiaomi Hyoer OS, màu đen, lắp sim số 0969.062.120.
  • - Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Vũ Trọng A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Trọng A khai nhận: Sáng ngày 29/9/2024 tại khu vực phía sau trường Đại học H thuộc xã N, thành phố N (nay là thành phố H) bị cáo và anh T1 đã góp tiền để bị cáo mua 01 túi ma túy của người phụ nữ tên C với giá 250.000 đồng ma túy. Sau đó bị cáo cầm túi ma túy trên tay trái đi bộ ra xe để về cùng T1 sử dụng thì gặp tổ công tác Công an xã N, thành phố N (nay là thành phố H) phát hiện, bắt giữ.

Trong quá trình điều tra người làm chứng là ông Trần Hoài N khai báo việc ông biết các tình tiết liên quan đến việc Cơ quan điều tra kiểm tra, phát hiện bị cáo A cất giấu ma túy như nội dung vụ án đã nêu.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo Vũ Trọng A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/9/2024 tại thôn H, xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, Vũ Trọng A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1311 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo Vũ Trọng A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

””

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo Trọng A phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Xử lý vật chứng:

  • + Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N (nay là thành phố H) đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Vũ Thế T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, biển kiểm soát 35B2-378.05 thu giữ của Vũ Trọng A. Ngày 29/9/2024 anh T2 không biết việc Trọng A sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N (nay là thành phố H) đã trả lại chiếc xe trên cho anh T2 là có căn cứ.
  • + Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử lý vật chứng như sau:
  • Tịch thu tiêu hủy vật chứng là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng gồm: 0,0936 gam là ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trên phong bì ghi số 841//KL-KTHS-MT; túi ni lông màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; phong bì, vỏ túi ni lông ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2.
  • Tịch sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Xiaomi Hyoer OS, màu đen, lắp sim số 0969.062.120 được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT.

[3] Các vấn đề khác:

  • - Về nguồn gốc số ma túy, Trọng A khai số ma túy này mua của một người phụ nữ có tài khoản zalo tên “Vũ Châm”. Cơ quan điều tra đã tiến hành gửi công văn đến Công ty cổ phần T3 yêu cầu cung cấp thông tin người đăng ký tài khoản, số điện thoại đăng ký đến nay chưa có kết quả trả lời. Do đó chưa có căn cứ để xác định tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma tuý có tài khoản zalo “Vũ Châm” như Trọng A khai. Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người có tài khoản zalo “Vũ Châm” để tiếp tục điều tra xác minh,nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
  • - Đối với người tên T1 sử dụng tài khoản Messeger tên “Bắc Nam” là người gọi điện rủ và góp tiền mua ma tuý với Trọng A. Quá trình điều tra Vũ Trọng A khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, chỉ biết ở huyện Y, tỉnh Ninh Bình nên không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo A1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N (nay là thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vũ Trọng A 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án phạt tù, được trừ đi 9 ngày bị tạm giữ từ ngày 29/9/2024 đến ngày 08/10/2024
  2. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm 0,0936 gam là ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trên phong bì ghi số 841//KL-KTHS-MT; túi ni lông màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; phong bì, vỏ túi ni lông ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2;
    • - Tịch sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Xiaomi Hyoer OS, màu đen, số IMEI1: 866596067327601, số IMEI2: 866596067327619, lắp sim số 0969.062.120 được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT.

    (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liêu, vật chứng ngày 27/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

  3. Về án phí: Bị cáo Vũ Trọng A nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Hoa Lư
  • - Chi cục THA DS thành phố Hoa Lư;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Trọng A phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger